Archives

Đọc “Có Một Thời Nhân Chứng” của Lê Lạc Giao

CHIẾN TRANH:  NHÂN CHỨNG VÀ NẠN NHÂN

Tô Đăng Khoa

“Tình yêu cũng giống như chiến tranh ở chỗ: dễ bắt đầu, nhưng rất khó kết thúc.”
-H. L. Mencken

Truyện dài “Có Một Thời Nhân Chứng” là tác phẩm thứ ba của nhà văn Lê Lạc Giao, do nhà xuất bản Văn Học phát hành năm 2018.  Hai tác phẩm trước của Lê Lạc Giao là: “Một Thời Điêu Linh” (2013), và “Nửa Vầng Trăng Ký Ức” (2016), đều là thể loại truyện ngắn.  Với tôi, tuy hình thức khác nhau, nhưng cả ba tác phẩm của Lê Lạc Giao là một sự tương tục: ba tác phẩm-một chủ đề canh cánh trong lòng.

Qua hai tác phẩm trước, độc giả có thể nhìn thấy mối quan tâm, trăn trở của nhà văn Lê Lạc Giao chính là các chủ đề rất phổ quát chi phối toàn bộ lịch sử nhân loại từ thuở khai thiên lập địa cho đến ngày nay, tức là chủ đề: tình yêu và chiến tranh, mà bản chất chính là sự phơi bày hai thái cực thương-ghét trong mỗi con người.  Nhìn từ khía cạnh này thì: Lịch sử của nhân loại chính là lịch sử của những cuộc chiến tranh; trong đó tình yêu thời chinh chiến như là một thứ gì đó cực kỳ diễm lệ nhưng lại rất mong manh, tương phản giữa đống hoang tàn, khốc liệt, và phi lý cùng cực của chiến tranh, giúp ngăn ngừa con người rơi vào hố sâu của tuyệt vọng.
xem tiếp

Advertisements

Đọc “Có Một Thời Nhân Chứng” của Lê Lạc Giao

Phan Tấn Hải

Từng trang trong tiểu thuyết “Có Một Thời Nhân Chứng” khi lật qua trước mắt tôi, y hệt như tấm gương chiếu rọi về một thời kỳ nửa thế kỷ trước; đó là những ngày thơ mộng sinh viên, hạnh phúc của những mối tình thời mới lớn, và đau đớn khi nhìn thấy xóm làng chia cách giữa lằn ranh nội chiến. Từng trang là hình ảnh hiển lộ từ một cuốn phim đen trắng của thời nghệ thuật điện ảnh chưa có màu… là một dòng chảy thời gian của dân tộc in sâu trong ký ức của thế hệ sinh viên Sài Gòn trong các năm cuối thập niên 1960s và đầu 1970s. Nơi đó tôi nhìn thấy hình ảnh miền Nam trong cuộc nội chiến dai dẳng, nơi lằn ranh quốc-cộng có khi rất mờ nhạt nơi sân trường đại học Sài Gòn – nơi có những người bạn của tôi đứng ở cả hai bên lằn ranh quốc-cộng mờ nhạt đó. Và trong ký ức đó, có rất nhiều người đã mất một phần thân thể cho cuộc chiến, hay đã nằm xuống nơi chiến trường, nơi nhà tù sau 1975, nơi biển lớn Thái Bình Dương, và rồi khắp mọi nơi chúng ta có thể nghĩ tới.
xem tiếp

Đọc Lê Văn Thiện Trước 1975

Nguyễn Lệ Uyên

LVT
Nhà văn Lê văn Thiện (1947-2018)

Lê Văn Thiện sinh ngày 10 tháng 5 năm 1947 tại thị trấn Vạn Giã, Khánh Hòa trong một gia đình nông dân nghèo. Sau khi cha chết vì làm lụng cực nhọc, Thiện phải bỏ học lúc mới xong chương trình trung học đệ nhất cấp tại trường Trung học Võ Tánh, Nha Trang, vào lính vì không biết một nghề nào để làm lụng đỡ đần mẹ già và em gái. Anh có thời gian 2 năm phục vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47, SĐ 22 Bộ binh, đóng tại Phú Yên. Sau khi tốt nghiệp trường SQ trừ bị Thủ Đức, Thiện được thuyên chuyển về Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, tham gia các trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường miền Tây Nam bộ và Campuchia.
xem tiếp

Chết Đường

Ông Chín Tưởng có một thời làm lý trưởng – hồi còn Tây – nên dân làng Nho Khánh gọi là Xã Chín. Tuy sống giữa vùng quê cằn cỗi nhưng ông Tưởng có bốn chục mẫu ruộng, hơn năm chục con trâu, và là chức sắc, nên nhà Xã Chín được coi như một danh gia.
Năm đó vùng Nho Khánh bị hạn hán trầm trọng. Ông trời như một gã trai trẻ tinh nghịch. Chỉ cách một cánh đồng mà bên Nho Phước mưa nhiều lần, người ta nô nức trồng dưa, gieo đỗ, gieo mè. Bên này, suốt sáu tháng Nho Khánh nắng ròng, tới giữa tháng tám giếng trong làng vẫn khô trơ đáy, ruộng vẫn nẻ đất.
xem tiếp

Khôn ngoan đối đáp người ngoài *

Related image
Đồi Toompea – nguồn: Internet

Cuối tháng sáu, khi mùa hè vừa trở về vùng Bắc Âu, nhóm du lịch ba cặp, sáu người chúng tôi lên đường làm một chuyến du thuyền, đánh một vòng từ Copenhagen (Đan Mạch), viếng thăm các thành phố Stockholm (Thụy Điển), Tallinn (Estonia), St. Petersburg (Nga Sô) và Helsinki (Phần Lan) trước khi trở về bến xuất phát.

Ngày đã dài hơn đêm. Khí hậu thật mát mẻ, dễ chịu. Bầu trời luôn trong xanh. Biển yên lặng. 12 ngày trên du thuyền, khi tham dự các chương trình du hí chúng tôi có dịp giao thiệp thật thú vị với một số khách du lịch đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Đa số khách trên du thuyền chỉ biết vui chơi, hưởng thụ. Trong lúc trò chuyện, nếu có điều gì nghe không thuận tai họ nhanh chóng bỏ qua, lảng sang chuyện khác.
xem tiếp

Nghề thầy (7)

Cao Vị Khanh

Image result for hình ảnh thầy đồ ngày xưa
tranh minh họa: Internet

(tiếp theo và hết)

Nghĩ cũng ngộ, tôi đã bỏ cái mộng giang hồ từ khi đời xúi bẩy đi làm thầy. Vậy mà đời lại đưa tôi xuống tới Rạch Giá để được đi giang hồ vặt hoài. Ngó cái bộ tôi cũng “chịu chơi” cho nên học trò thường hay rủ rê làm những cuộc rong chơi giang hồ rất mực. Có khi về nhà cha mẹ ở tuốt dưới quê ăn đám giỗ, hay thôi nôi đầy tháng gì đó. Có khi nhảy theo ghe biển lang thang bạt mạng ngoài mấy hòn đảo nhỏ xíu loi choi giữa vịnh Thái Lan. “Tôi ở hòn Khoai chạy về hòn Ðá Bạc. Tôi trương bườm chạy lạc tới hòn Nhum. Gặp lão tiều đốn củi lum khum. Tôi hỏi ông lão chớ não nùng tại ai?”. Mấy câu ca dao đã một thời làm tôi bứt rứt, khi có dịp may là tôi đâu có chịu từ. Buổi trưa thứ sáu, tan giờ dạy, xách cái túi vải lận thêm bộ quần áo với vài ổ bánh mì chạy vội ra bến cảng cùng một hai tên đệ tử, đón ghe cá quen có giang đi hòn. xem tiếp

Nghề thầy (6)

Cao Vị Khanh

Image result for hình ảnh thầy đồ ngày xưa
tranh minh họa: Internet

(tiếp theo)

Chuyện nợ duyên của tôi còn đang nhùng nhằng giống như hội nghị Ba Lê giằng co ba cái vụ bàn tròn với bàn vuông chưa đâu tới đâu thì đã được lệnh gọi trình diện nhập ngũ. Ðời trai của tôi tạm thời được “án treo” gác qua một bên, tôi ăn vội vàng thêm mấy bữa cho hết nồi xà- bần của má tôi rồi khăn gói lên đường vô trại nhập ngũ số 3, tiếp tục con đường tầm sư học đạo. Nhưng mà lần này thì chẳng ăn nhằm gì đến nghề dạy trẻ. Bộ Giáo Dục sau khi cho đám tụi tôi nếm nhắp nháp chút đỉnh mùi phấn trắng chắc sực nhớ lại xứ mình là xứ chiến tranh cho nên lật đật ra lệnh triệu hồi cho đi nếm thêm mùi thuốc súng ở trường Bộ Binh Thủ Ðức. xem tiếp