Chúc Mừng Sinh Nhật Nhà Văn Trần Hoài Thư

Thân kính chúc Anh Trần Hoài Thư một sinh nhật thật êm đềm và vui vẻ.

Birthday Wishes for a Friend's Spouse
Nguồn: Internet

***

Nguyễn Quang Chơn
VIẾT VỀ ANH TRẦN HOÀI THƯ…

blank
Chân dung Trần Hoài Thư – Nguyễn Quang Chơn vẽ (2017)

Buổi sáng bất ngờ nhận phone anh Nguyên Minh, anh bảo: “ Quán Văn kỳ này làm đặc san Trần Hoài Thư, Phạm Cao Hoàng có gởi hình em vẽ anh Thư, anh sẽ đăng lên đặc san, và xin em một bài viết về anh Thư, gấp nghe Chơn!” Tôi đã từ chối anh vì “đơn hàng” bất ngờ mà thực ra trong lòng chưa có “chất xúc tác” nào để “khởi động” bài viết…

Tôi biết Thư Quán Bản Thảo từ 2011, khi lên thăm anh Đinh Cường ở Virginia, được ngủ trong basement nhà anh mà anh gọi là “sào huyệt”, ở đó đầy tranh và sách, nhiều nhất là Thư Quán Bản Thảo. Tôi đọc mê tơi những tạp chí với chủ đề về các tác giả và văn học miền Nam Việt Nam như đang được sống lại thời tuổi trẻ khi đọc những “Văn”, “Văn học”…

Thư Quán Bản Thảo có hình thức cũng khá giống “Văn”, nội dung và chủ đề thì rất rõ ràng, ấy là sưu tập và lưu giữ văn chương miền Nam trước 1975, ghi nhớ lại các tác giả đã gầy dựng nên một nền văn học đặc biệt, đặc sắc, mang đầy tính nhân văn, nghệ thuật của nước nhà, một nền văn học đã bị đánh mất, đã bị tiêu diệt, đã bị bôi bẩn ngay từ 30/4/1975.

Con người và văn chương bị tan tác, đổ nát, tù đày….

Con người có thân phận vậy văn chương có thân phận không? Có đấy, văn chương miền Nam VN cũng bị đẩy ra đường, vất vào sọt rác, bị tù đày trong những chỉ thị, những nghị quyết… Mục tiêu là xóa mọi vết tích để các thế hệ sau này không ngắm nhìn được những khuôn mặt văn nghệ đặc sắc mà “bên thắng cuộc” xem như kẻ thù!…

Ba ngày ở với anh Đinh Cường là 3 ngày đọc TQBT vào những giờ rảnh rỗi, những đêm nằm không. Đọc để nhớ tuổi trẻ, nhớ bạn bè, nhớ không gian văn học ngày xưa. Và qua các trang viết, các lời tựa, thư từ trao đổi, tự nhiên trong lòng tôi hình thành nỗi biết ơn một con người mấy mươi năm nơi đất khách quê người đã miệt mài lục loại, sưu tầm, tra cứu, tìm tòi những mảnh rời của bức tranh văn học hào sảng một thời của một nửa đất nước để gìn giữ, để bảo tồn. Người ấy được anh em văn nghệ yêu mến gọi là “người khâu di sản”, đó chính là nhà văn Trần Hoài Thư!…

Anh Trần Hoài Thư tên thật là Trần Quí Sách (tên vận vào người), đã từng dạy học tại Trần Cao Vân Tam Kỳ, nơi tôi học suốt thời trung học, sau anh đi lính, viết văn. 1975 ở tù. 1980 qua Mỹ học lại kỹ sư điện toán và làm việc cho AT&T và IBM cho đến lúc nghỉ hưu 2004.  Anh và nhà văn Phạm Văn Nhàn lập ra Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán.  Tập san ra đều từ đó gắn với hình ảnh anh mái tóc bạc phơ gầy gò ngồi khâu gáy sách…

Những năm đó tôi nhiều lần qua Mỹ, được gặp nhiều văn nghệ sĩ mình ngưỡng mộ, nghe nhiều người nhắc đến anh, văn đã kỳ thanh và hình thì vẫn còn bất kiến. Lòng muốn gặp anh mà nước Mỹ thì rộng vô cùng, xa cách, đi lại khó khăn, nên chỉ vẫn tiếp tục “theo dõi” anh trên các trang viết của Trần Thị Nguyệt Mai, Phạm Cao Hoàng, Trần Yên Hòa, Nguyễn Xuân Thiệp… với lòng ngưỡng mộ. Nhất là cái hình ảnh một nhà văn già với tình yêu mênh mông đằm thắm, lọ mọ chăm sóc chị Yến, người bạn đời đang bệnh yếu được ký lại trên những trang ghi, những bài thơ…. Và những đêm khuya lạnh mướt xứ người, ngoài trời tuyết đổ, trong căn nhà nhỏ, anh chắt chiu chăm sóc những trang văn, ước mơ khâu lại được nền di sản văn học thiêng liêng, ước mơ sâu thẳm tột cùng của một người suốt đời “Quí Sách”, “Hoài Thư“!…

Tôi vẫn chưa gặp anh nhưng cũng từ một đêm hoài vọng, tôi đã vẽ được anh trên nền canvas bằng những màu dầu được nhiều người khen. Âu cũng là sự biết ơn, là tâm tình gởi đến anh, cũng như hôm nay, 3 giờ sáng, ngoài trời miền Trung mưa lạnh và tối om.  Thức giấc giữa khuya, nhớ lời phone anh Nguyên Minh, tôi ghi vội những cảm xúc của mình, để tri ân một nhà văn đặc biệt, tượng trưng cho sức mạnh một văn học miền Nam Việt Nam lưu lạc long đong theo thời cuộc nhưng không bao giờ tan biến…

Anh Trần Hoài Thư vẫn còn đó dù có héo hon, di sản văn chương miền Nam vẫn còn đó dù mây trôi bèo giạt, sứt mẻ ít nhiều!….

Nguyễn Quang Chơn
09.12.2021

 

Nhà văn Trần Hoài Thư đang ngồi khâu Di Sản Văn Chương
Người khâu Di Sản Văn Chương Miền Nam Trần Hoài Thư

 

Hoàng Xuân Sơn

V Ẫ N L Ạ N H T R À N
T R O N G Đ Ờ I

{Hãy ướp lạnh cốc rượu mùi đừng, trái tim}

gởi Trần Hoài Thư

Mỗi ngày tôi mở tủ lạnh để làm gì không biết
chỉ ngó mông
thức ăn đầy
lòng trống rỗng

Mỗi ngày tôi đợi cái lạnh trong ngày
qua đi
đợt lạnh khác xô tới
lạnh
lạnh
lạnh
khác gì đâu những cái tủ lạnh ùa ra
chạy đầy đường sau chiến tranh
những cái tủ lạnh được nạo vét kỹ càng
thời hòa bình bao cấp

Tôi mang một cái tủ lạnh dán tem lưu hành tứ xứ

[thực phẩm đầy ắp mà lòng lạnh tanh]

Lò sưởi tôi thuê trên phố ảo
không phà nổi một hơi len
chiếc khăn lụa không biết
chăm lo một ánh đèn

Tôi chăm lo sách
tôi chăm lo chữ
chăm lo cuộc đời tai biến

Đời có biết bao nhiêu cái tủ lạnh làm rào cản
lạnh
lạnh
lạnh
tung tẩy hàn lâm
lời rét cóng

Tôi cố gắng lưu thân nhiệt chà xát đấu tranh với độ âm
và sau cùng thúc thủ với cái tủ lạnh khổng lồ thổ nhưỡng

Cổng trời vẫn mở
tôi bắt đầu biết làm thơ
lạnh quá
những con chữ

h o à n g x u â n s ơ n
4.11.2021

 


Anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến trong mùa đại dịch

 

Doãn Cẩm Liên

TÌNH YÊU – TRẦN HOÀI THƯ

Không phải đọc hết cả hai Tuyển Tập Truyện Ngắn và Tuyển Tập Thơ mà thấy hết và hiểu hết được Trần Hoài Thư!

Đọc Trần Hoài Thư từ văn đến thơ là độc giả có ngay một cảm giác rất thật, đời thật, chiến tranh ác liệt thật, toàn chuyện thật. Những chuyện đã xảy ra trong đời của ông. Cũng từng trang sách này cho độc giả thấy “thật” của chữ “khổ nạn” lừng lững theo chân Trần Quí Sách như thế nào. Thế nhưng, đọc kỹ và chậm để thấy rõ hơn là dòng sông cuộc đời của Trần Hoài Thư đã có những khúc quành thật ngoạn mục, đẹp, và sáng rạng rỡ không hề có “khổ nạn” khi ông gặp được chị “vợ” và khi ông có đứa con đầu lòng.

Trong tờ KBC số đặc biệt Trần Hoài Thư, đọc bài “Cho Con Mùa Tựu Trường”. Ông kể chuyện đưa con đến trường ngày đầu. Tâm trạng người bố, tình xót xa của người mẹ khi tạm biệt con ở lại, chuyện thót tim khi con bị lạc trên đường về nhà. Nhiều tình tiết diễn bày, nhưng tôi ngầm hiểu tình thương ông cho thằng con trai là nhất trần đời, không gì thay thế được. Hình chụp minh họa cho bài viết này là bức ông trong bộ đồ lính, mắt miệng cười tít, tay ôm thằng con trai, giơ nó lên như khoe đây là cục vàng y của tôi! Trần Hoài Thư lúc này không phải là Trần Hoài Thư của chiến trường khói lửa, gan dạ, và lầm lì. Một Trần Hoài Thư vui với niềm vui tưng bừng khi bế con.

Lui lại quá khứ, trong một số Thư Quán Bản Thảo đã đăng, ông Ngô Thế Vinh kể chuyện cái ngày ông được chủ báo Bách Khoa Lê Ngộ Châu giới thiệu nàng Yến, người say văn thơ Trần Hoài Thư. Cái ngày đó được đánh dấu là điểm khởi đầu ngày mới, đời mới, màu sắc mới của Trần Hoài Thư. Ông đã được hồi sinh khi có một người yêu dấu để yêu và ngược lại, một cuộc đời có đôi lứa để đi về sau những ngày nồng khói súng, và màu hồng sắc sáng đã chiếu vào quãng đời mới này.

D:\NGÔ THẾ VINH\BÀI NHỜ CHỈNH\1 TRẦN HOÀI THƯ CHIM_Page_11_Image_0003.jpg
Anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến

Trần Hoài Thư yêu vợ, yêu chị Yến đến tận cùng. Không còn gì để phân tích hoặc phản ứng nữa. Nó như sao lùn trắng, bão hòa vì không còn nhiên liệu để có phản ứng hạt nhân nào nữa. Cũng như tình yêu của anh dành cho vợ, không gì suy suyển hay thay đổi được.

Thế nhưng, dường như Trần Hoài Thư chỉ rạng ngời ở khoảng thời gian có vợ con bên cạnh. Bằng không thì ngược lại…

Hãy đọc Hương Tình Khổ Nạn. Bảy năm “Khổ nạn” vì chị Yến bị stroke, những năm lần bị stroke nên trí não bị hỏng, phá hư nhiều chức năng của con người, nói cười, đi đứng. Chị chỉ còn một tấm thân bất động mà anh vẫn tìm ra những điểm để yêu mến. Khi đẩy xe cho chị đi dạo vòng Nursing home:

“Tôi đẩy xe, em ngồi, pho tượng
Nhưng tôi nghe hơi ấm tỏa đầy”

Nếu không yêu vợ, nếu tình yêu thay đổi thì làm gì anh thấy “hơi ấm tỏa đầy”. Có khi chỉ thấy nóng bức hoặc bồn chồn trong giây phút này thôi!

Anh vẫn yêu bờ lưng của chị như ngày nào. Ngày mà bảy năm trước trở ngược đi, anh vẫn từng ôm và nâng niu bờ lưng ấy.

“Tôi áp vào bờ lưng của em
Của một người thánh nữ trần gian
Bảy năm nằm mãi không ngồi dậy
Mà tấm lưng vẫn láng sáp vàng”

Rồi ngay cả mái tóc của chị, anh còn tưởng đến hương bồ kết vương vấn. Hừm, người đau bệnh, nằm lì bảy năm thì có còn chăng “mái tóc dạ hương” mà mơ đến mùi bồ kết!? Thế mà…

“Ô kìa, mái tóc mượt mun đen
Hay là em gội bằng bồ kết”

Tình anh nồng nàn ôm lấy chị, cho dù một tuần được một lần gặp, ôm, hôn, hít và thở ra những câu thơ mà người đọc cùng ngậm ngùi với anh chị.

“Ta có nơi về, tuần một buổi
Để lòng ấm lại tuổi chiều hôm
Hôm nay trời bỗng nghe hơi lạnh
Áo choàng này đắp đỡ cho em”

Thương quá!

Nhưng “khổ nạn” nào có tha Trần Hoài Thư đâu. Chàng cũng thi đua với nàng để lấy chỉ số 5/1. Nàng năm lần bị stroke thì chàng cũng được một lần biết thế nào là trí não bất lực với chính cơ thể của mình. Nhưng Trần Hoài Thư không chịu thua. Chàng cương quyết luyện tập, lấy ý chí ra bắt tay và bắt chân phải vận động. Trần Hoài Thư làm được điều mình đặt ra. Anh đã quăng được nạn, quăng gậy, quăng xe lăn để tự đi trên hai chân của mình. Đi thăm người yêu còn đang bị lưu giữ ở nursing home để chúng ta được đọc bài thơ trên.

11/15/2021

Bài viết đang dở dang thì hung tin Trần Hoài Thư phải cấp cứu vào bệnh viện vì chứng ói ra máu. Và đây bài thơ được viết ra sau năm ngày nằm trong bệnh viện JFK (John F. Kennedy Hospital). Đây Trần Hoài Thư “” của con người luôn bị “khổ nạn” dằn vặt:

Thơ từ JFK

(Ngày thứ năm ở bệnh viện tặng bạn bè chia sẻ)

Tôi thức dậy, mấy giờ thì cũng vậy
Tội tình tôi cửa nẻo bỏ phế trì
Còn đâu căn phòng, máy cắt, máy in
Với dàn computer tôi kéo màn ca hát

Đã quen rồi một bài thơ vừa mang áo mới
Nhưng bây giờ tôi bị đóng ống đinh
Này ống dây chuyền nước biển hồi sinh
Này ống thọc vào tận cùng cuống mũi
Này những ống dò tim, ống đo động mạch
Ngay cả thân giường cũng đặt ống ra-đa

Nhưng mà làm sao cản được nhà thơ
Thơ gỡ bỏ những nợ trần muốn khóc
Cô y tá ơi, hãy giúp tôi một cây viết
Và cho thêm một vài tờ giấy trắng tinh

Ngày ở đây dài quá, lê thê
Tôi sẽ vịn thơ mà quên khổ nạn.

Độc giả yêu mến Trần Hoài Thư xin vào trang nhà Blog Trần Hoài Thư https://tranhoaithu42.com/2021/11/14/tho-tu-jfk/ để đọc thêm những bài khác.

Khổ nạn” hai chữ của định mệnh Trần Hoài Thư. Nó theo đuổi và đóng khung, ôm rịt ông lại. Ông vùng vẫy được khi có cùng vợ con trên đường đời. Nay ông có vẻ chịu thua vì vợ không còn bên cạnh để cùng dựa lưng chống đỡ nó. Chị đã bị dính liền với “nursing home” hay nói cách khác nhà Người Già đã ưu ái nuôi dưỡng chị những ngày còn lại. Con trai nay đã có cuộc sống gia đình riêng của mình. Thương xót cha già là phải vật lộn với thời gian sao cho vừa trọn tình cha con, vừa đầy đủ bổn phận với vợ con của mình. Trần Hoài Thư còn lại với dàn máy vi tính, đống máy in, máy cắt, máy đóng gáy… và với “khổ nạn” cay đắng của mình.

“Khổ Nạn”, vì nó là “định mệnh” là “nghiệp chướng” nên nó vẫn lừng lững theo gót chân Trần Hoài Thư như hình với bóng. Cái bóng liền sát với hình chỉ chực chờ ngày nó nhập vào thành một. Ngày nào đó, ai mà biết được. Và chỉ cầu mong ngày đó không gần kề, để độc giả yêu mến Trần Hoài Thư vẫn còn được tiếp tục đọc Thư Quán Bản Thảo, để vẫn còn tiếp tục nói cười với ông qua thơ văn.

Mong thay!

Doãn Cẩm Liên
California, ngày 15112021

 


Chân dung Trần Hoài Thư – Hoàng Ngọc Biên vẽ

 

Trần Thị Nguyệt Mai

VĂN CHƯƠNG

Kính tặng anh Trần Hoài Thư

Niềm vui khi trẻ: Văn Chương
Đã theo ta suốt đoạn đường chiến chinh
Nằm gò mả, ngủ Tháp Chiêm
Cùng con cái vất vả triền miên đêm ngày
Lúc nào bút cũng trong tay
Sống và Viết để tỏ bày không ngơi…
Giờ mái tóc tuyết sương rơi
Cũng Văn Chương mãi không rời bỏ ta
Niềm vui nhỏ bé thật thà
Từng cuốn sách đã in ra cho đời
Phần thư: hai chữ rụng rời
Ta đi góp nhặt từng lời người xưa
Tủ Sách Di Sản: Văn Thơ
Miền Nam Thời Chiến bây giờ còn đây
Những di chúc: chứng tích đầy
Máu và nước mắt bao ngàn ngày đêm
Văn chương giúp ta không quên
Những người lính với trái tim diệu kỳ
Cảm tạ em, bờ vai mềm
Muôn đời ta vịn em vào mà đi…

Trần Thị Nguyệt Mai
5.2.2021

 

TVD va THT
Trần Hoài Thư & Trương Văn Dân, NJ 2015

 

Trương Văn Dân

TRẦN HOÀI THƯ
và những vết thương không ngừng rướm máu

Trong văn học Việt Nam có rất nhiều người yêu văn chương nhưng có lẽ hiếm ai dám xem văn chương là lẽ sống và dành trọn đời mình để đi đến tận cùng của đam mê, ngoài việc viết còn tự nhận lãnh trách nhiệm để gìn giữ phần của một nền văn hóa không cho chìm vào quên lãng như nhà văn Trần Hoài Thư.

Đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi còn sống và làm việc ở Ý, tôi “biết” THT qua tạp chí Văn Học xuất bản ở California. Tình cờ đọc một bút ký của ông nên đã làm tôi để ý.

“Không thể ngờ một ngày tôi lại có mặt giữa ba ngọn tháp buồn thiên cổ để cảm nhận thế nào là dấu vết của Điêu tàn trong thơ Chế Lan Viên. Có lẽ tôi may mắn hơn nhà thơ họ Chế, bởi vì ông chỉ nhìn bóng tháp mà làm thơ, còn tôi, tôi sống với tháp, tôi ngủ trong lòng tháp, tôi được tháp che chở bảo bọc suốt gần bốn năm dài.”

Trong bài viết ông cho biết hậu cứ của đơn vị thám kích của mình nằm trên đồi Bà Gi, còn gọi là đồi Tháp Bánh Ít. Trên đỉnh có ba ngọn tháp Chàm, nơi mà thời học trung học ở Quy Nhơn tôi và các bạn thường chạy xe máy lên chơi.

Đang sống ở xa bỗng bắt gặp một người nói về quê hương mình, tự nhiên trong lòng tôi phát sinh cảm tình và trong những số Văn Học tôi thường tìm đọc các bài viết của ông, tuy đề tài về chiến tranh không phải là sở thích của mình. Biết giải thích thế nào, có thể xem đó như cách “tha hương ngộ cố tri” mà chỉ ngộ qua tâm tình của những trang viết.

Mãi hơn 30 năm sau, vào mùa thu 2015, cùng các bạn Quán Văn [1] sang Mỹ, tôi mới có dịp gặp ông. Thời gian chỉ vỏn vẹn hai tiếng đồng hồ mà trò chuyện như đã quen từ lâu lắm.

&

Có thể nói là Trần Hoài Thư không sinh ra dưới một ngôi sao sáng: cuộc đời ông thiếu may mắn, khó khăn từ khi niên thiếu, suốt đời lính trôi nổi cho đến những năm tháng định cư ở nước ngoài. Sức khoẻ, công việc hoàn cảnh gia đình đều như không thuận theo ông và có lẽ những yếu tố tâm lý này nên ông cầm lấy bút, “trú” vào văn chương, xem nó như một phương pháp trị liệu để có thêm  sức sống hầu vượt qua số phận nghiệt ngã chăng?

Thất lạc cha ngay khi còn quá nhỏ, Trần Hoài Thư  theo mẹ đến Nha Trang sống thời thơ ấu rất đỗi cơ cực. Ông từng bán hàng rong ở các bến xe, phải đi bộ mỗi ngày 20 cây số để đến trường. Mãi đến khi gặp lại thân phụ thì mới theo học tại Quốc Học, Đại Học Huế, rồi trở vào Nam học Khoa Học Sài Gòn.

Thời gian quân ngũ, cuộc sống cận kề giữa biên giới tử sinh, Trần Hoài Thư bị trúng đạn ba lần. Và khi chiến tranh chấm dứt, sau “cải tạo” ông phải bán cà rem dạo một thời gian trước khi vượt biển vào năm 1980.

Thừa hưởng cái tên Trần Quí Sách do cha mẹ đặt, nhà văn còn chọn cho mình một bút danh như một sự hòa nhập Trần Hoài Thư. Tên và hiệu đã vận cuộc đời ông dính liền với chữ nghĩa, sách báo.

Tình yêu và gia đình của ông cũng  đến từ những trang văn. Vợ ông,  nhũ danh Nguyễn Ngọc Yến, trước 1975 là một viên chức của Viện Đại học Cần Thơ, là người thích đọc sách và mê văn ông nên được nhà văn Nguyễn Lệ Uyên giới thiệu để hai người gặp nhau rồi nên nghĩa vợ chồng. Một “đám cưới nhà binh” đơn giản nhưng có sự hiện diện của bạn bè và nhiều văn nghệ sĩ.

Văn chương đã mang lại cho hai người rất nhiều đồng cảm, có nhiều hạnh phúc nhưng cũng nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi xế chiều.

&

Sau khi qua Mỹ, Trần Hoài Thư học lại đại học, làm công việc kỹ thuật để mưu sinh nhưng ông vẫn viết. Và viết nhiều hơn như để níu kéo những ký ức khi phải sống rời quê hương.  Nhà văn Đỗ Trường khi viết về ông đã nhận xét: “Ông viết cho mình, viết cho đồng đội, cho quê hương.  Mỗi trang sách, bài thơ của ông như những đường kim sợi chỉ, vá lại linh hồn cho bao người đã bị rách nát trong chiến tranh, và trong những ngày trốn chạy lưu vong.”

Năm 2004 Trần Hoài Thư nghỉ hưu non và chính thức thực hiện giấc mơ làm báo, làm nhà xuất bản với lối in ấn, phát hành theo cung cách riêng của mình. Tất cả đều do vợ chồng ông bằng phương pháp thủ công, nhưng có thể nói Trần Hoài Thư  là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại.

Thư Quán Bản Thảo là một tạp chí không định kỳ và nhà xuất bản Thư Ấn Quán đã được ra đời như thế.

Có thể nói Trần Hoài Thư là người đã có công sưu tầm những mảnh vỡ văn chương miền Nam (1954 – 1975)  bị thất tán sau khi chiến tranh chấm dứt. Từng bước, ông, chị Yến và các bạn đã bỏ nhiều công lao khôi phục lại nền văn chương tuy “bị đốt” nhưng “sách có thể cháy mà chữ thì không thể cháy”. Một công việc vô cùng khó khăn, kiên nhẫn và tốn kém rất nhiều thời gian để phục hồi.

Công việc đang tiến hành thì vào tháng 12/2012 người bạn đời của ông  bị tai biến mạch máu não (stroke). Sau đó chị còn bị một trận stroke thứ hai, rồi thứ ba, đến tháng 05/2015 thì chị Yến không thể ở nhà mà cần phải được chăm sóc 7/24 trong một viện điều dưỡng (nursing home).

Còn lại một mình, THT bơ vơ vì chị Yến là một cộng tác viên đắc lực: “Yến giúp tôi lái xe khi đi xa trong những lần tới Thư viện Đại học Cornell, rồi đóng bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, hay phụ với tôi khiêng những thùng giấy tôi mua với giá rẻ. Yến giúp tôi viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem, hay nhắc tôi về những sơ xuất. Khi một người hỏi order một cuốn sách, Yến luôn luôn nói là tặng, đừng lấy tiền. Tâm Yến là tâm Phật. Mất Yến là mất cả cánh tay phải, tôi như hết chỗ vịn.

Mấy tháng sau khi chị Yến được đưa vào viện điều dưỡng thì mấy anh em trong tập san Quán Văn qua Mỹ. Sau khi gặp gỡ các bạn bè và văn hữu ở Califonia chúng tôi bay qua Virginia để thăm họa sĩ Đinh Cường và các bạn ở miền Đông Hoa Kỳ. Trong thời gian chỉ mươi ngày nhưng vợ chồng nhà văn Nguyễn Minh Nữu đã tranh thủ đưa chúng tôi đi thăm rất nhiều nơi: những bảy tiểu bang ở miền Đông. Một ngày chủ nhật, vợ chồng Nguyễn Minh Nữu – Kim Mai.. còn thay phiên nhau lái xe đưa đoàn gồm nhà văn Nguyên Minh, nhà thơ Đoàn văn Khánh và vợ chồng tôi – Elena đi thăm  thành phố New York. Đi từ sáng sớm đến nửa đêm. Trên đường đi chúng tôi có ghé lại New Jersey để thăm nhà văn Trần Hoài Thư.

Chuyến ghé thăm Trần Hoài Thư đầy kịch tính, buồn, lo âu và có nhiều cảm xúc.

Ngày trước đó Nguyễn Minh Nữu đã gọi điện và báo cho anh Thư là chúng tôi sẽ đến thăm và hẹn nhau là sẽ gặp tại nhà vào khoảng 10 sáng ngày hôm sau. Nhưng  hôm đó chị Kim Mai khởi hành sớm, mới hơn 9 giờ là chúng tôi đã có mặt  trước sân nhà. Dù đã gọi báo là đến sớm hơn, nhưng không liên lạc được. Đến nơi, thấy có một chiếc xe đậu trước sân nhà lòng chúng tôi khấp khởi mừng thầm. Mấy năm trước Nguyên Minh đã từng đến và ở lại đây vài hôm với bạn, nhưng gọi cửa, không ai trả lời. Gọi điện không bắt máy.

Lúc này trời vào thu, không gian vắng lặng và lá vàng rơi ngập trước sân. Nữu cho biết là ở vùng này chỉ có gia đình anh Thư, ngoài ra không có gia đình người Việt nào khác. Anh chị Thư có một con trai là bác sĩ nhưng đang làm việc ở xa, đi xe phải mất 3, 4 tiếng. Trời se se lạnh, mấy anh em đứng chờ ngoài sân. Cứ 5 phút là gọi nhưng không liên lạc được.

Từ sốt ruột đến lo lắng. Tôi nhìn thấy có mấy quyển sách tiếng Việt trên chiếc đang đậu. Vậy nếu anh Thư không dùng xe thì chắc không đi xa, tuy cũng có thể dùng xe ai khác? Nhưng sao gọi mà anh không bắt máy?

Tất cả những câu hỏi đưa ra đều không có lời đáp. Nguyên Minh sốt ruột, ra vườn sau, nhìn lên nhà, gọi, rồi đến bấm chuông cửa. Thử đẩy, thì cửa mở, không khóa. Bước vào. Gọi. Lên phòng ngủ trên lầu. Xuống tầng hầm để máy in, vừa đi vừa gọi bạn. Căn nhà trống.

Anh Nữu bấm máy. Vẫn không liên lạc được. Anh bảo Nguyên Minh, anh đừng vào, đứng đây đông, lỡ hàng xóm gọi cảnh sát thì phiền. Giờ mình lên xe đi một vòng thị trấn rồi lát quay lại.

Khi quay lại vẫn không thấy ai. Lúc này chúng tôi lo lắng thật sự. Đứng ngoài sân, đường vắng, những chiếc lá vàng rơi trên tấm thảm lá dày trên nền đất, gió lay xào xạc càng buồn thêm.  Chờ. Gọi. Nhìn quanh mong ngóng. Không có tín hiệu gì, cả đoàn không biết tính thế nào, đi hay ở, thì ngay lúc ấy thấy có một chiếc xe chạy tới. Căng mắt nhìn… và khi xe dừng lại thì thấy người lái là anh Thư.

Anh Nguyên Minh lao tới ôm chầm lấy bạn. Hai người bạn 60 năm được gặp lại nhau. Chúng tôi đứng quanh, mắt ai cũng rơm rớm vì xúc động.

Hai vòng tay giữ chặt không buông. Họ là hai nhà văn, tuy tên tuổi chưa hẳn lừng lẫy trên văn đàn, nhưng cái tình yêu văn chương của họ không ai sánh nổi, và tôi nghĩ, văn học sử sẽ phải nhắc đến họ và không thể phủ nhận công sức của những người đã dám sống và chết cho văn chương chữ nghĩa:

Từ 20 năm nay, nếu ở Hải Ngoại Trần Hoài Thư đã gom góp bài vở của các tác giả để in trong Thư Quán Bản Thảo thì ở trong nước  Nguyên Minh cũng đã xây dựng được Quán Văn, một tạp chí văn chương “tư nhân”, ra mắt định kỳ và quy tụ được nhiều cây bút trong và ngoài nước. Đến nay, tháng 7-2021, Quán Văn đã ra mắt được 82 số báo.

Tuy văn học miền Nam chỉ có hai mươi năm (1954-1975) nhưng sinh ra nhiều hoa quả, tạo nên một nền văn học phong phú, đa dạng với nhiều nguồn sáng tạo, nhiều khuynh hướng.

Trần Hoài Thư  chào  hỏi và mời mọi người vào nhà.

– Ông đi đâu mà nhà mở cửa, không khóa?

– Nghèo, trộm cũng chê mà khóa chi cho mất công. Ông cho biết là vừa đi thăm vợ, sáng nay có chút việc nên về trễ.

Bước vào nhà, ông dắt mọi người xuống tầng hầm, nơi in ấn, đóng sách, trên các kệ, bàn có nhiều máy in đủ kích cỡ. Giấy tờ sách vở ngổn ngang, chứng tỏ từ lâu thiếu bàn tay phụ nữ. Căn nhà hai tầng, phòng khách, phòng ăn… tất cả bài trí đơn giản, đúng là trộm có vào thì cũng chẳng biết lấy gì, ngoài một rừng sách bằng tiếng Việt mà họ không thể đọc.

Ngồi trò chuyện một lát ông bảo khi các bạn từ New York về hãy quay lại đây ở một đêm nhưng ngày hôm sau Kim Mai phải làm việc nên không thể.

Nguyên Minh đề nghị đi thăm chị Yến. Các y tá nhìn đoàn 7 người chưa kịp ngăn thì anh Thư nói bạn từ Việt Nam qua thăm nên họ vui vẻ mời vào.

Một nhà điều dưỡng  lịch sự và đầy đủ tiện nghi. Chị Yến năm trên giường, chị nhận ra Nguyên Minh, vợ chồng Nữu, Kim Mai, và anh Thư giới thiệu tôi, Elena và anh Khánh. Với nụ cười thật hiền chị Yến nhìn chúng tôi, nói ít nhưng ánh mắt chị diễn tả hết nỗi vui mừng và cảm xúc.  Suốt thời gian chị nắm tay Elena đứng bên cạnh. Sau một lát Elena bỗng sực nhớ, bảo tôi lấy trong túi xách mấy phong bánh Pía.

Đó là món quà của Hoàng Kim Oanh, trước khi bay đã gửi tôi và dặn “Món quà của quê hương anh chịu khó mang qua để anh Nguyên Minh ăn trên máy bay và gửi tặng bạn bè mỗi người một chút lấy thảo”.

Elena điều chỉnh cho đầu giường lên cao rồi bóc bánh mời chị Yến. Chị là người miền Nam, gặp mùi vị quê mình nên chị  vui và ăn thật ngon lành. Anh Thư dặn đừng cho ăn nhiều, không tốt, để mỗi ngày ăn một chút cho chị vui lâu.

Quyến luyến nhưng rồi cũng phải chia tay. Chúng tôi ôm nhau từ giã. Anh Thư tiễn chúng tôi,  xe lăn bánh mà tất cả đều ngoái đầu nhìn cái dáng gầy ốm đứng vẫy cánh tay khẳng khiu, lòng ai cũng bồi hồi thương cảm. Trong lòng tôi lúc đó chợt nghĩ, có ai ngờ cái thân thể gầy gò mảnh khảnh kia lại có thể mang trong lòng mình nỗi đau nhân thế và chỉ dùng chữ nghĩa để thét gào trong câm lặng?

&

Thú thật là tôi đọc văn Trần Hoài Thư không nhiều, nhưng những gì đã đọc tôi đều nhớ, nhất là những ý tưởng nhân văn. Trong lúc chiến tranh lan rộng, sống chết sát sườn, thế nhưng người lính như Trần Hoài Thư không gọi người phía bên kia là địch hay kẻ tử thù mà chỉ là những “người lính khác trận tuyến”, bị bắt buộc cầm súng . Góc nhìn này đã ảnh hưởng cậu bé mê văn là tôi lúc ấy rồi về sau cũng thường mang vào những trang viết của mình.

Trần Hoài Thư viết chân thật, dù là viết trực diện trong chiến tranh, lúc bom rơi đạn nổ hay cả khi sống ở nơi thanh bình, lìa xa đất nước khoác áo dân sự và làm một kỹ sư. Ông nhiệt tình và say mê, yêu văn chương như chính bản thân mình.

Viết trong thời chiến nhưng truyện của ông không kích động lòng căm thù mà chỉ hướng về trải nghiệm của người lính để thấy nỗi sợ hãi và nỗi đau của con người. Ông viết để người đọc thấy thân phận bọt bèo của con người trong cuộc chém giết vô nghĩa và tàn nhẫn, bóc trần giá trị con người và đạo đức trong một cái xã hội lộn tùng phèo:

“Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn”

Trần Hoài Thư đã viết như trả nợ những cái chết của đồng đội và cũng để tố cáo sự lạm quyền bọn người ăn chơi phè phỡn và tranh giành quyền lực bằng những thủ đoạn chính trị bẩn thỉu tạo nên cuộc chiến.

Hơn ai hết, Trần Hoài Thư hiểu người lính chỉ là những nạn nhân đáng thương, bị bắt buộc lao vào giòng cuồng lưu tàn bạo. Xin được trích ở đây một đoạn văn từ  “Nhật Ký Hành Quân II”:

“ Ngày hôm đó, ngày 9-5 thì phải. Mặt trời thì gay gắt. Chỉ có mặt trời mới thấy bọn tôi. Tôi nằm trong bụi, mặt dầm dề máu và mảnh lựu đạn, đít mông cũng vậy. Tôi, lần đầu tiên, niệm:  “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, cứu nạn cứu khổ…” hàng trăm lần. Nhìn mặt trời. Cho con sống. Sống. Sống. Tôi vùng dậy chạy. Đạn bắn dưới chân. Tôi lộn nhào. Chạy. Chạy. Đạn rít trên đầu, tôi nhào xuống bờ suối. Đạn đuổi theo. Ngó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc, bùm. Thụt đầu vào. Chạy, lăn. Tội nghiệp thân thể mày chưa, ốm yếu thế kia. Cha mẹ nâng niu thế kia, bây giờ vùng vẫy, bò, chui từng đám bụi, bò hai chân, hai tay. Bò ngửa. Bò sấp.” Khi đọc đoạn văn này trước mắt tôi như đang thấy Trần Hoài Thư đang chạy. Những câu chữ dồn dập, ngắn, gọn làm tôi như nghe được hơi thở hổn hển của anh dưới lằn tên, mũi đạn.

Tuy cái chết rình rập nhưng trong tim người lính vẫn có một tình yêu lãng mạn: “Trong khi anh sống lên chết xuống cũng gọi tên em. Trong khi anh nằm trên gò mả, trong mương, trong bụi, trên võng trận, trong giao thông hào, cũng nhớ đến em (…). Anh mới hiểu không gì mạnh mẽ, cuồng nộ, si dại, như tình yêu đầu đời. Anh mới biết rằng trong một đời, có một người để mình mang theo vĩnh cửu.” (Tình Nhớ, Bách khoa, tr. 51, 53)

Nhưng những thanh niên mang trong lòng những ước mơ êm đềm dù có may mắn sống sót thì khi bước ra cuộc chiến đã là tên thương binh già trước tuổi, với đôi mắt buồn bã vì tương lai đen tối. Tôi nhớ một truyện ngắn khác của Trần Hoài Thư, kể về một tù binh được phóng thích sau hiệp định Paris: Trong khi nhiều người xăng xái tìm xe tàu để mau về đoàn tụ với gia đình thì có một người bơ vơ, không biết đi về đâu. Anh đi thất thểu ngoài đường, thấy một ngôi nhà có đèn sáng đang tất bật chuẩn bị đón giao thừa. Anh bước vào để tìm chút hơi ấm. Nhưng khi chủ nhà hỏi: ông tìm ai thì anh ấp úng trả lời: “xin lỗi, tôi lầm nhà.”

Chủ nhà cũng là một thương binh, hiểu chuyện, mời anh cùng đón giao thừa.

Sau năm 1975, ở hải ngoại như khởi đầu cho một dòng văn học mới. Chiến tranh chấm dứt nhưng có những người phải rời bỏ quê hương nên tiếng súng như vẫn còn nổ vang trong lòng họ. Nếu cầm bút thì những bi thảm, chia lìa,  nhục nhằn, phẫn nộ… sẽ tuôn chảy theo những trang viết và những vết thương, chết chóc đã từng ám ảnh trong đời họ sẽ có dịp trỗi dậy như những hoài niệm khó thể quên.

Người lính thám kích Trần Hoài Thư đã từng mơ, khi im tiếng súng, được về Nha Trang dạy học. Nhưng thời cuộc đã không cho ông thực hiện ước nguyện. Bốn năm “đi học” như bốn nhát dao chém vào tâm hồn ông và những vết thương trong hồn không bao giờ thành sẹo.

Có lẽ ông đã quá thơ ngây, mơ giấc mơ hai miền Bắc Nam sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại yêu thương và tha thứ lẫn nhau.

Nhưng ông đã lầm! Và hiện thực sau đó làm tăng thêm nỗi đau và khiến ông không thể buông rời cây bút.

&

Đầu năm 2020, thế giới đã trải qua với trận đại dịch, cho đến nay vẫn chưa chấm dứt, các nhà điều dưỡng hay viện dưỡng lão trở thành nơi lui tới của Corona virus. Chị Yến phải nhập viện vì bị nhiễm Covid-19. Mang trong mình nhiều bệnh nền và sau ba lần bị tai biến không ai nghĩ là chị sẽ qua khỏi. Thế nhưng chị cầm cự được. Điều đau lòng là vào tháng 06/2020 Trần Hoài Thư cũng bị tai biến. Một buổi sáng khi cầm bút viết thì nhận thấy bàn tay cầm bút khó khăn và hàng chữ run rẩy xiêu đổ. Linh cảm cho ông biết đây là một dấu hiệu bất thường. “Số phần chúng tôi coi như là mạt lộ rồi. Thôi hết rồi giấc mơ Thư Quán Bản Thảo, giấc mơ Thư Ấn Quán. Thôi hết rồi những bài văn những bài thơ theo nhịp gõ êm êm trên bàn phím. Niềm vui trong tuổi xế chiều tự nhiên bị cướp mất”.

Căn nhà trống vắng. Vườn sau, sân trước cỏ dại mọc dày. Thư nghĩ đến con, nếu ngày xưa ba dắt con đi thì giờ là lúc “ba phải vịn con”.  Con trai ông, bác sĩ Thoại dọn dẹp lại căn phòng, sắp xếp cho ba nằm trên cái giường bệnh viện có thể điều khiển cao thấp mà mẹ Yến đã bỏ lại khi vào nhà điều dưỡng .

Chính lúc này Trần Hoài Thư còn phải đương đầu với một thực tế là những ngón tay đã không tuân theo ý chí. Điều đau khổ nào lớn hơn một nhà văn không thể viết? Cảm giác bất lực, gần như tuyệt vọng!

“Gần như” thôi chứ ông không chịu bó tay. Phỏng theo các bài tập ở bệnh viện  về cách bốc lượm, cách lắp ráp các hình nhà.. bằng carton ông tập viết trên giấy hay bấm trên màn hình chiếc iPhone. Dần dần ông cũng làm chủ được các ngón tay, tuy có vụng về nhưng thế là được, ông lại say sưa viết vì biết quỹ thời gian của mình cũng sắp cạn kiệt.

Tập hồi ký Cảm Tạ Văn Chương đã được ông viết trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy nhưng hoàn tất trong một thời gian kỷ lục. Nó có thể là tác phẩm cuối cùng kể lại cuộc đời mà cũng giống như một bản chúc thư.

Tôi may mắn được nhà phê bình văn học Đỗ Trường gửi  tập sách này qua email,  vì tình cờ trao đổi qua Facebook, anh cho biết là đang đọc Cảm Tạ Văn Chương  và hỏi tôi nếu muốn sẽ gửi qua.

Một cuộc đời đầy những khó khăn và gian khổ. Mỗi trang sách như viết từ trái tim khiến lòng tôi thực sự rung động và nhiều khi ngậm ngùi rơi lệ , xót xa và thương cảm.  Đọc xong tôi càng thêm quý mến ông. Người thật sự dành trọn đời cho tình yêu văn chương.

Đầu tháng 2/2021 chị Yến lại bị thêm lần tai biến thứ tư, phải nằm viện với các thương tật mới: bị tổn thương vùng ngôn ngữ, mất tiếng nói và thị giác suy kém. May là chị vẫn còn nghe và hiểu được người thân. Do ăn uống khó khăn nên người ta phải đưa ống G-Tube dẫn thức ăn thẳng vào bao tử.

Dường như tất cả những  đau khổ của trần gian đều đã trút xuống gia đình ông.

Nhưng Trần Hoài Thư vẫn tiếp tục viết. Ông Trần Quí Sách vẫn luôn bám vào văn chương để thoát khỏi những nghiệt ngã của đời sống có nhiều biến cố và bi kịch, cá nhân hay gắn liền vào những thăng trầm của đất nước. Ký ức và hoài niệm luôn ám ảnh và bằng tài năng, nghị lực cùng tình yêu văn chương đã giúp ông vượt qua những bất hạnh bám theo đến những năm tháng cuối đời.

Trong mấy trang cuối  của tập hồi ký Trần Hoài Thư viết: “Thêm một lần nữa tôi phải cảm tạ văn chương. Nó đến khi tôi ngã xuống. Nó giúp tôi vịn mà đứng dậy. Nó là chiếc gậy thần, tôi chống mà đi. Cho dù bây giờ không hồi phục hẳn, nhưng tôi vẫn có thể gõ một bài thơ, post một bài viết, hay xuống hầm nhà để tự tay đóng một cuốn sách. Dù mắt mờ, bước chân xiêu đổ. Để niềm vui mọc cánh nở hoa”.

Tôi đồng cảm với ông. Tôi cũng thường xem viết là một trị liệu pháp để con người có thể trú vào văn chương chống lại cái thực tại bất toàn và đầy bi thảm.

Trong bài viết về chân dung, nhà phê bình văn học Đỗ Trường đã chọn cái một cái tựa rất hay: “Trần Hoài Thư, người ngồi vá lại những linh hồn” nhưng tôi muốn góp thêm một ý, ông là người ve vuốt những vết thương chưa ngừng rướm máu

Trương Văn Dân
Milano, mùa Covid năm thứ hai
Tháng 8-2021

[1] http://www.art2all.net/tho/truongvandan/tvd_muathu_nhungchieclatimnhau.html

 

Trần Hoài Thư
từ trái: Kim Mai, Đoàn Văn Khánh, Nguyên Minh,
Trần Hoài Thư, Trương Văn Dân & Elena (NJ 2015)

 

Elena Pucillo Truong

MỘT CUỘC ĐỜI ĐẦY ẨN SỐ VÀ KỶ NIỆM

(Nguyên tác tiếng Ý : una vita piena di incognite e ricordi)
Bản dịch của Trương Văn Dân

Khi tương lai không có gì chắc chắn ngày xưa người ta thường tìm lại sự  bình an trong quá khứ. Ông bà cha mẹ chúng ta đã từng vượt qua chiến tranh, khốn khó và đói kém, nhưng họ luôn tin rằng bằng trí óc, trái tim và đôi tay thì mọi người đều có thể chung sức dựng xây được một cuộc sống thanh bình. Những hy sinh của họ được củng cố bằng niềm tin là sẽ mang lại sự  bình an cho con cháu.

Tất cả những  hy vọng ấy giờ đây trong cơn đại dịch chỉ có thể là một ảo tưởng tàn nhẫn.

Ngày càng trôi mọi thứ càng khó để có thể lập kế hoạch cho tương lai.

Nhiều lần trong trí tôi hiện lên những khoảnh khắc trong quá khứ, khi chúng ta còn có thể lên kế hoạch cho các chuyến đi xa hoặc sắp xếp các cuộc gặp gỡ người thân. Tôi có thể sắp xếp “khi nào”, “thế nào” và “ở đâu” một cách dễ dàng và đến được với bạn bè và người thân thì cũng đồng nghĩa với việc ôm nhau, giống như một con thuyền đến bến an toàn giữa cơn bão tố.

Nhưng ở tại thời điểm này chưa ai thấy giải pháp nào cho đại dịch và ngay cả vắc- xin cũng không thể mang lại cho chúng ta sự yên tâm, giữa các biến thể và sự gia tăng số lượng người nhiễm bệnh.

Thế cho nên tôi sâu sắc nhận ra rằng, nếu tình hình lây nhiễm Corona virus xảy ra từ nhiều năm trước thì chắc chắn cuộc đời của tôi đã khác, lúc đó những cuộc gặp gỡ đã bị bỏ lỡ, những cảm xúc chưa được nảy sinh, những niềm vui chưa được trải nghiệm và những giọt nước mắt cũng chưa được tuôn trào.

Như thế, tôi đã không thể gặp lại cha mẹ mình, tiễn đưa họ trong chuyến đi cuối cùng của đời người hay ôm chầm lấy người thân và bạn bè ở Ý. Tôi đã không thể dự đám cưới của các cháu ở Việt Nam hay ở Úc. Nếu không thể đi du lịch thì làm sao tôi có thể đến Nha Trang, thăm vợ chồng anh Đặng Châu Long và chị Hạnh, gặp Từ Sâm và em Duyên. Tôi cũng không thể đi cùng nhà văn Nguyên Minh và tất cả bạn bè của Quán Văn trong những chuyến đi Quy Nhơn và Phú Quốc, tham dự những lần họp mặt tại nhà Nguyên Cẩn và em gái Ngọc Anh, được ăn xôi, đậu phộng và bắp tại nhà của Dung thị Vân rồi trở về với một giỏ trứng gà so, nhỏ nhỏ, xinh xinh.

Nhiều niềm vui đã không thể xảy ra, và cho dù có những kỷ niệm buồn hay đau đớn thì tôi cũng không bao giờ từ bỏ. Tôi sẽ không được đi Mỹ, không được gặp gỡ bạn bè văn nghê sĩ ở San Jose,  vui sống một thời gian trong gia đình của vợ chồng Đặng Phú Phong, của Nguyễn Minh Nữu và hơn hết là đã không thể được gặp họa sĩ Đinh Cường lần cuối, người mà giữa anh và tôi tự nhiên có một mối liên kết và thân tình sâu sắc.

Cũng như thế, nếu không đến New Jersey để gặp nhà văn Trần Hoài Thư và vợ anh là chị Ngọc Yến, tôi sẽ không hiểu làm thế nào có một người yêu sách và văn chương đến thế!

Khi chúng tôi đến mà anh vẫn chưa về, thấy cửa mở, theo Nguyên Minh bước vào căn nhà, chúng tôi bị choáng ngợp bởi sự im lặng trong phòng khách trống rỗng,  tuy có những dấu hiệu là có người đang sống ở đây như một ít trái cây trên đĩa, một cái chăn phủ lên ghế sofa và chiếc máy điều khiển TV trên bàn cà phê. Nó trống vắng như thể đang đợi chủ trở về để sinh hoạt bình thường. Thế nhưng, khi bước xuống cầu thang, lập tức tôi nhận ra ngay sự năng động, cảm được sự cuồng nhiệt và niềm đam mê văn học, chính là sức sống của nhà văn đặc biệt này …

Những chiếc máy in, những tờ giấy, những cuốn sách vừa đóng gáy, những tài liệu hay trang báo nhiều màu sắc được cắt rời… nằm trên chiếc bàn khổ rộng  như đang minh chứng cho sự sống động và đồng thời mang lại hồn vía và sức sống cho tầng hầm đó. Nó cho chúng ta hiểu rằng nhà văn Trần Hoài Thư đã dành rất nhiều thời gian của mình ở đó, giữa hàng đống giấy tờ và sách vở nằm rải rác, chồng chất ngổn ngang.

Sau chừng một giờ, khi chúng tôi đi một vòng thị trấn thì anh ấy mới trở về nhà. Tôi rất ấn tượng bởi sự nhạy cảm của người đàn ông này, khi anh đi loanh quanh trong nhà tìm một cuốn sách, để giới thiệu cho chúng tôi biết công việc anh đang làm. Ánh mắt có một chút tự hào và thanh thản. Điều quan tâm và lo lắng duy nhất của anh là vợ mình đang sống trong viện điều dưỡng nơi mỗi ngày anh đều đến để được gần gũi với bà.

Anh đưa chúng tôi đi thăm vợ và tôi nhận ra ngay sự dịu dàng trong mối quan hệ của họ, người này chăm sóc, an ủi người kia và ngược lại, vì họ sống một mình, xa đất nước nên nỗi nhớ và kỷ niệm của người này mang lại hơi ấm và làm hồi sinh  người kia.

Chị Yến chào đón chúng tôi nồng nhiệt, ngạc nhiên và thân tình ngay khi nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Việt và khi tôi mời chị ăn bánh pía, mắt chị ấy lấp lánh niềm vui như một đứa trẻ háu ăn.

Chỉ cần một mẩu bánh có hương vị sầu riêng là đủ để  mang chị  trở về thời tuổi trẻ, nếm lại mùi vị của tuổi thơ, như thể chị là một  nhân vật  đang cầm chiếc bánh  madeleine trong tiểu thuyết “Đi tìm thơi gian đã mất” (À la recherche du temps perdu) của nhà văn Pháp Marcel Proust.  Đôi tay gầy guộc của chị nắm chặt gói bánh như muốn níu kéo những kỷ niệm, cảm xúc của một thời đã xa. Cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài chừng hơn một giờ nhưng chứa đầy cảm xúc và chân tình mà ngày nay trong đại dịch khó thể nào thực hiện.

Nếu tôi không gặp nhà văn Trần Hoài Thư và chị Yến, nếu không thực hiện chuyến đi đó thì tôi đã không thể nào được trải nghiệm những cung bậc cảm xúc này. Sống mà không cảm xúc, không có đam mê, không trải qua hạnh phúc và khổ đau thì cũng có nghĩa là không sống. Suy cho cùng, đó là điều mà trong giai đoạn bị cô lập vì Covid-19  làm tôi sợ nhất, khi những mối quan hệ và những cuộc gặp gỡ đều bị hạn chế, vì với tôi được trải nghiệm cảm xúc có nghĩa là sống và tôi vẫn muốn có thời gian để sống với trọn niềm đam mê.

Trong những tháng ngày thế giới bị phong tỏa tôi thường xem lại những bức ảnh ghi lại những khoảnh khắc ở Việt Nam, những chuyến đi cùng bạn bè, những bữa cà phê điểm tâm vào buổi sáng và tưởng nhớ hương vị, màu sắc và giai điệu trầm  bổng đáng yêu của tiếng Việt. Tôi níu vào tất cả những cảm giác này với một nỗi nhớ nhưng đồng thời cũng hy vọng là sớm được trở về trên đất nước xa xôi thương mến của mình.

Elena Pucillo Truong
Milano 12.8.2021
Mùa đại dịch Covid-19 năm thứ hai