Nhà Tiên Tri (kỳ 1)

Tác giả: Khalil Gibran
Chuyển ngữ: Trang Châu

Kahlil GibranThe Prophet: Kahlil Gibran: 9789387004122: Amazon.com: Books
Tác giả: Khalil Gibran & Tác phẩm: Nhà Tiên Tri

Tiểu sử Khalil Gibran

Sinh năm 1883 tại thành phố Bécharré, Liban. Năm 11 tuổi theo mẹ di dân sang thành phố Boston, Hoa Kỳ. Năm 16 tuổi ông trở về lại Liban theo học trường đạo ở Beyrout. Năm 18 tuổi ông sang Paris theo học ngành hội họa. Trong thời gian này ông viết cuốn Les esprits rebelles. Tác phẩm này bị đem đốt trước công chúng tại Beyrout theo lệnh của nhà cầm quyền Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 20 tuổi ông trở lại Boston sống bằng nghề hội họa. Năm 26 tuổi ông trở lại Paris làm việc cho Ecole des Beaux Arts. Năm 28 tuổi ông trở về New York sống bằng nghề hội họa và sáng tác thơ cho đến khi ông mất vào năm 1931 khi vừa được 48 tuổi. Thi thể ông sau đó được đưa về an táng tại một tu viện ở Bécharré, Liban.

Le Prophète (Nhà Tiên Tri) được xuất bản năm 1923 là tác phẩm bất hủ của Khalil Gibran, được giới văn học Tây Phương nhiệt liệt đón nhận. Khalil Gibran viết tác phẩm này lần đầu bằng tiếng Ả Rập khi ông mới 15 tuổi. Sau lần in thứ ba bằng tiếng Ả Rập, ông viết lại bằng tiếng Anh. Ông sửa chữa đến bốn lần trước khi đưa đi in. Ông nói: “Tôi muốn chắc mỗi chữ tôi viết là chữ hay nhất mà tôi gởi tới người đọc.”

Nhà văn Trang Châu chuyển ngữ theo bản tiếng Pháp của Camille Aboussouan.

***

An Môn Phổ, đấng Thượng Đế chọn và là bậc được kính ái, suốt mười hai năm ròng chờ đợi từ thị trấn Ô Pha Lê con tàu trở lại đưa người về quê cũ.

Năm thứ mười hai, một ngày cuối tuần vào mùa gặt, ngài rời bỏ những vách tường của thị trấn lên đỉnh đồi cao nhìn ra khơi và thấy từ xa con tàu của ngài ẩn hiện trong sương.

Tim ngài mở rộng cho niềm vui bay ra biển cả. Ngài nhắm mắt tĩnh tâm cầu nguyện.

Nhưng khi ngài xuống đồi lòng ngài bỗng rưng rưng buồn. Ngài thầm nhủ:

“Làm sao ta có thể ra đi yên tâm và lòng không vương vấn. Không, hồn ta sẽ bị tổn thương khi ta rời bỏ thị trấn này.
Dù chuỗi ngày đắng cay thật dài, dù những đêm cô đơn gần như bất tận, không ai từ bỏ niềm đắng nỗi cô đơn của mình mà không luyến tiếc?
Ta đã gieo rắc nhiều ý tưởng của ta trên những nẻo đường này và những người nghe ta không phải là ít. Ta không thể rời bỏ họ mà lòng không nghe quặn đau.
Ngày hôm nay không phải là ngày ta thay một chiếc áo mà là ngày chính tay ta bóc lấy da ta.
Đàng sau ta, ta để lại không phải một nhúm tư tưởng mà để lại một con tim đầy cảm xúc trước cảnh đói khát.
Nhưng ta không thể nấn ná thêm.
Biển cả gọi ta về nên ta phải trẩy thuyền.
Bởi vì ở lại, trong đêm tối, với thời khắc bị đốt dần, ta sẽ bị đông cứng trong cái khuôn.
Ta vẫn ước mong mang theo với ta tất cả những gì của nơi đây. Nhưng sao ta làm được?
Tiếng nói không mang theo môi lưỡi dù môi lưỡi đã giúp lông cánh cho tiếng nói. Tiếng nói phải đơn phương bay vào tinh khí.
Như con đại bàng phải rời bỏ tổ để một mình bay lượn dưới ánh mặt trời.”

Khi xuống tới chân đồi ngài nhìn ra khơi lần nữa, thấy con tàu sắp vào bến. Trên mũi tàu ngài thấy bóng dáng những đồng hương của ngài.

Tâm hồn hướng về họ, ngài nói:

“Hỡi những đứa con của bà mẹ cổ xưa của ta, hỡi những kỵ mã cỡi sóng,
Đã bao phen ta thấy các ngươi chèo lái trong giấc mơ của ta.
Bây giờ các ngươi đến vào lúc ta thức giấc. Thức giấc là giấc mơ thâm trầm nhất của ta.
Ta sẵn sàng ra đi lòng nôn nả như cánh buồm mong gió.
Ta hít thở một lần cuối không khí trong lành, một lần cuối ta âu yếm ngoảnh nhìn trở lại,
Sau đó ta sẽ ở giữa các ngươi, trở thành một tay chèo lái như các ngươi.
Hỡi Đại Dương nồng mặn, người như một bà mẹ canh thức,
Chỉ người mới ban được cho sông ngòi an bình và tự do,
Con sông này chỉ còn một khúc cong phải rẽ, một khoảnh khắc phải thì thầm qua khoảng trống của rừng,
Và sau đó ta sẽ đến với người như một giọt nước không hạn đổ vào đại dương vô bờ.”

Trên đường đi ngài thấy từ xa từng nhóm đàn ông, đàn bà rời bỏ đồng lúa, ruộng nho, hối hả tiến về các cổng của thị trấn.

Ngài nghe họ nêu tên ngài và tiếng họ gọi nhau từ cánh đồng này sang cánh đồng khác để báo tin tàu của ngài đến.

Ngài thầm nhủ:

“Ngày ta đi có hẳn là ngày gặt hái?
Có phải đêm ta canh thức thật sự chỉ là bình minh của ta?
Ta lấy gì để cho kẻ đã từ bỏ cấy cày, cho kẻ đã ngừng ép nho để theo ta?
Há phải lòng ta được trở nên một cành cây trĩu trái để ta có thể bứt hái và phân chia?
Há phải ước muốn của ta tuôn chảy như dòng suối để ta có thể rót đầy ly của họ?
Phải chăng ta là cây đàn mà bàn tay của Đấng Vạn Năng có thể chạm tới hay chiếc sáo mà hơi thở của Người có thể truyền sang?
Ta chỉ là kẻ đi tìm yên lặng và ta đã tìm thấy kho tàng nào trong sự im lặng đó để cho lòng có thể tự tin đem đi phân phát?
Nếu hôm nay là ngày ta gặt hái thì ở thửa ruộng nào ta đã gieo hạt, ở mùa nào ta đã lãng quên?
Nếu thật sự đã là giờ ta cất ngọn đèn thì ngọn lửa của ta sẽ không cháy nơi đó nữa.
Dù trống vắng và tối tăm ta sẽ tắt ngọn đèn của ta,
Và người gác đêm sẽ rót đầy dầu ngọn đèn và sẽ thắp sáng nó lên.”

Có những điều ngài nói lên bằng lời, nhưng cũng có những điều chôn chặt tận đáy lòng ngài không thể diễn tả ra được. Vì chính ngài, ngài cũng không thể phơi bày bí mật sâu kín nhất của ngài.

Khi ngài bước vào thị trấn tất cả dân chúng tiến về phía ngài và đồng thanh gọi ngài.

Những bô lão của thị trấn tiến đến và thưa:

“Xin ngài đừng vội bỏ chúng tôi.
Ngài là đứng bóng trước hoàng hôn của chúng tôi. Với tuổi trẻ của ngài, ngài đã cho chúng tôi những giấc mơ để mơ mộng.
Giữa chúng tôi ngài không là kẻ lạ cũng không là người khách. Ngài là con của chúng tôi, là người chúng tôi rất thương yêu.
Ước gì mắt chúng tôi đừng để mất cơ hội chiêm ngưỡng dung nhan ngài.”

Những nhà tu hành nam, nữ cùng thưa:

“Xin đừng để sóng đại dương ngăn chia ngài và chúng tôi. Xin dừng để tháng ngày ngài chung sống với chúng tôi thành kỷ niệm.
Ngài đã đi cạnh chúng tôi như một thần linh. Bóng của ngài là ánh sáng soi chiếu mặt chúng tôi.
Chúng tôi yêu quý ngài nhưng tình chúng tôi câm nín.
Nhưng bây giờ tình chúng tôi lớn tiếng gọi ngài để tỏ bày.
Tình yêu nào cũng vậy, chỉ đến lúc chia phôi mới biết tình đã đậm sâu.”

Nhiều kẻ khác đến và khẩn khoản ngài ở lại. Ngài làm thinh. Đầu ngài hơi cúi xuống và những kẻ ở gần thấy hai dòng lệ đang tuôn xuống ngực ngài.

Cùng dân chúng ngài tiến đến trước sân rộng của ngôi đền.

Bây giờ từ trong đền cấm một người đàn bà tên Ánh Mai xuất hiện. Nàng là một nhà chiêm tinh.

Ngài nhìn nàng bằng tất cả trìu mến vì Ánh Mai là người đầu tiên theo ngài, tin ngài ngay từ ngày đầu tiên ngài đặt chân đến thị trấn.

Ánh Mai chào ngài và thưa:

– Hỡi nhà tiên tri của Thượng Đế, kẻ đi tìm vô tận. Đã từ lâu ngài theo dõi chân trời để tìm dấu con tàu của ngài.
Bây giờ tàu đã đến và ngài phải ra đi.
Chúng tôi hiểu nỗi nhớ nhung sâu xa nơi chôn nhau cắt rốn của ngài. Và dù tình của chúng tôi đối với ngài rất sâu đậm chúng tôi không dám ràng buộc ngài, dù chúng tôi rất cần ngài chúng tôi không dám giữ ngài.
Nhưng trước khi từ giã, chúng tôi mong ngài nói cho chúng tôi biết sự thật về ngài.
Chúng tôi sẽ truyền lại cho con cái chúng tôi, con cái chúng tôi sẽ truyền lại cho con cái chúng nó, và sự thật ấy sẽ không bao giờ bị hủy diệt.
Trong đơn chiếc của ngài, ngài đã canh giữ đời sống chúng tôi, ngài đã nghe chúng tôi khóc cười trong giấc ngủ của chúng tôi.
Bây giờ xin ngài hãy cho chúng tôi biết về chúng tôi, nói cho chúng tôi rõ những gì đã được khám phá ra từ khi chúng tôi lọt lòng mẹ cho đến khi chúng tôi từ giã cõi đời.

Nhà tiên tri đáp :

– Hỡi dân thành phố Ô Pha Lê, ta biết nói gì với các ngươi ngoài những gì đang khơi động tâm hồn các ngươi?

Bây giờ Ánh Mai thưa:
– Xin ngài nói về Tình Yêu.

Nhà tiên tri ngửng nhìn đám đông. Im lặng bao trùm mọi người. Ngài cất cao giọng nói:

– Khi tình yêu ra dấu hãy theo y,
Dù đường tình có chông gai trắc trở.
Khi tình yêu xỏa cánh ấp ủ đừng chống cự y,
Dù mũi kiếm ẩn dưới bộ lông y có thể gây thương tích.
Khi tình yêu nói hãy nghe lời y,
Dù tiếng nói y có thể làm tan vỡ mộng như ngọn bắc phong tàn phá khu vườn.
Tình yêu đăng quang các ngươi nhưng tình yêu cũng đóng đinh các ngươi.
Tình yêu tăng trưởng các ngươi nhưng tình yêu cũng đẽo gọt các ngươi.
Tình yêu có thể vươn cao lên mơn trớn ngọn cành các ngươi đang rung nắng,
Tình yêu cũng có thể len sâu để lay động tận gốc rễ các ngươi.
Tình yêu mang các ngươi đi như những hạt thóc.
Tình yêu chày giã các ngươi để bóc trấu.
Tình yêu sàng sảy để loại bỏ những sạn đá nơi các ngươi.
Tình yêu nghiền nát các ngươi thành bột trắng.
Tình yêu nhồi nắn các ngươi cho đến nhuyễn;
Cuối cùng tình yêu đưa các ngươi vào lò nung, biến các ngươi thành bánh thánh để Thượng Đế dùng trong buổi tiệc của Người.
Tất cả những điều đó tình yêu làm cho các ngươi, để các ngươi có thể hiểu biết những điều bí mật của con tim các ngươi và nhờ đó các ngươi trở thành một phần nhỏ của trái tim của Đấng Hằng Sống.
Nhưng nếu trong cơn sợ hãi các ngươi chỉ lo tìm kiếm sự bình yên của tình yêu và thú vui của tình yêu,
Thì ta khuyên các ngươi nên che giấu vẻ lộ liễu ấy và nên mau rời khỏi khu vực của tình yêu,
Để đi vào một thế giới không thời tiết. Ở đó các ngươi sẽ cười khóc, nhưng nụ cười của các ngươi không trọn vẹn, nước mắt các ngươi sẽ không đầm đìa.
Tình yêu tự cho và tự nhận.
Tình yêu không chiếm đoạt và cũng không muốn bị chiếm đoạt.
Bởi vì tình yêu tự đủ cho tình yêu.
Khi các ngươi yêu các ngươi đừng nói: “Thượng Đế ở trong tôi”, trái lại các ngươi phải nói “Tôi đang ở trong lòng Thượng Đế”.
Các ngươi đừng nghĩ rằng các ngươi có thể chi phối tình yêu, trái lại chính tình yêu sẽ hướng dẫn các ngươi nếu các ngươi xứng đáng.
Tình yêu không có khát vọng nào hơn là tự hoàn tất.
Nhưng nếu các ngươi yêu và lòng muốn có những khát vọng thì hãy có những khát vọng này :
Tan chảy thành một dòng suối êm đềm róc rách trong đêm.
Càng nhiều yêu thương càng lắm khổ đau.
Chịu tổn thương bởi trí minh mẫn của tình yêu.
Và tự nguyện đau thương với một nụ cười.
Bình minh thức dậy với tâm hồn lâng lâng và cảm tạ vì có thêm được một ngày sống cho tình yêu;
Giờ nghỉ trưa, suy gẫm về sự tuyệt diệu của tình yêu;
Khi hoàng hôn trở về nhà với lòng biết ơn,
Và đêm ngủ, trái tim dâng một lời cầu nguyện cho người yêu dấu và trên môi một lời hát ngợi ca.

Ánh Mai lại hỏi tiếp :
– Còn vấn đề Hôn Nhân, thưa ngài?

Nhà tiên tri đáp:

– Các ngươi đã sinh cùng nhau các ngươi sẽ ở cùng nhau mãi mãi.
Các người sẽ ở cùng nhau cho đến khi đôi cánh trắng của tử thần phân tán đời các ngươi.
Các người sẽ ở cùng nhau cho đến khi Thượng Đế nhớ, gọi các ngươi về.
Nhưng hãy để khoảng cách giữa sự cảm thông của các ngươi,
Giữa các ngươi hãy để khoảng cho gió trời lượn nhảy.
Hãy yêu thương nhau nhưng đừng biến tình yêu thành một chướng ngại cho nhau:
Hãy để tình yêu như một vùng biển động giữa đôi bờ tâm hồn các ngươi.
Kẻ này hãy rót đầy ly kẻ kia nhưng chớ bao giờ uống chung một cốc.
Hãy chia nhau phần ăn nhưng chớ bao giờ ăn chung một mẩu bánh.
Hãy ca hát nhảy múa, hãy vui tươi cùng nhau nhưng mỗi người vẫn là mỗi người,
Giống như những sợi dây đàn, mỗi dây là một sợi riêng rẽ tuy tất cả cùng ngân lên một cung đàn.
Hãy cho nhau trái tim mình nhưng đừng trở nên kẻ canh giữ tim nhau.
Vì chỉ có bàn tay của Đấng Hằng Sống mới chứa đựng hết tim các ngươi.
Hãy ở bên nhau nhưng đừng quá sát nhau:
Vì những trụ đền chỉ vươn lên cao khi đứng xa nhau,
Vì cây đa và cây đề không thể cùng lớn lên trong bóng lá của nhau.

Khalil Gibran
Trang Châu chuyển ngữ

(Còn tiếp)

Advertisement