Lai rai với anh Trần Bang Thạch về Cần Thơ của anh mà tui biết

Hai Trầu Lương Thư Trung

HaiTrau_self.JPG
Hai Trầu với chùm khế quê hương
tại góc vườn nhà nơi đất khách

Anh Trần Bang Thạch quê làng Thường Đông, cách chợ quận Cái Răng tỉnh Cần Thơ khoảng 4 cây số. Hồi còn nhỏ ở quê làm vườn, học tiểu học. Thi tuyển đậu vào lớp Đệ Thất trường Trung học Phan Thanh Giản (Cần Thơ). Sau khi học hết bậc Tú Tài, anh theo học tại Đại Học Văn Khoa & Đại Học Sư Phạm Sài Gòn vì hồi đó ở Cần Thơ chưa có Viện đại học. Khi ra trường năm 1970, anh Trần Bang Thạch được bổ nhiệm về dạy ở trường Trung học công lập Thủ Khoa Nghĩa ở Châu Đốc và năm 1980 anh đổi về dạy trường Trung học Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên (lúc bấy giờ trường Thoại Ngọc Hầu có tên là trường Cao Đẳng Sư Phạm). Trước 1975, Trần Bang Thạch có viết văn, làm thơ và khi làm thơ ký bút hiệu Nguyễn Cát Đông với mục đích là để nhớ về làng Thường Đông thuộc quận Cái Răng, quê của mình nên trong giới văn chương thường gọi anh là nhà văn, nhà thơ nhưng tui thích gọi anh bằng “anh” hơn vì gọi như vậy nó vừa hợp với tính tình của anh vốn mô phạm, khiêm cung và lúc nào anh cũng nhớ mình là người gốc gác dân quê, miệt vườn, miệt ruộng mà nó cũng rất hạp với cái chất nhà quê của tui vốn là một người đọc già gốc gác ruộng đồng, quê mùa nhưng rất quý trọng người chữ nghĩa hiền tài nữa!

Về thơ của anh, tui nhớ được đoạn thơ của Nguyễn Cát Đông tả cảnh sông nước vùng Cần Thơ của anh:

“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm
Tấp nập ghe xuồng ngã Bảy, ngã Năm
Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ
Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng…”

Tui cũng thích và cảm thông được tâm trạng của người thầy không còn đứng trước bảng đen và phấn trắng như những ngày nào lúc mới ra trường nữa qua Liên khúc Trường Xưa của tác giả:

* KHÚC LẠ TRƯỜNG
Nghe sao lạ những ngói vôi
lạ em giữa lớp, lạ tôi giữa trường
hạt mưa nào rớt qua đường
hay tôi mắt ướt giữa sương khói chiều!

* KHÚC LẠ LỚP
Em trong cửa lớp nhìn ra
Ta ngoài cửa lớp thấy ta một thời
những thầy, 

những bạn, 
những tôi
những cơn mộng cũ 

ngồi nơi góc nào?!

* KHÚC THẦY CŨ
Vẳng nghe tiếng trống trường thành
với câu chinh phụ còn quanh chỗ ngồi
người xưa?

người đã đi rồi!
còn đây tiếng phấn nhẹ rơi giữa ngày!

* KHÚC NGƯỜI TRÊN BẾN LỠ
Người đi như sáo qua sông
như con nước lớn nước ròng ngược xuôi
tôi trên bến lỡ một đời
làm thân lá mục lạc trôi giữa dòng

(Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch, trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai, ngày 09-11-2020)

Sau khi đã đọc “Lai rai với nhà văn Song Thao…” của Hai Trầu), Trần Bang Thạch viết:

“Anh Hai Trầu,

Đọc phỏng vấn này khoái quá, đúng là lai rai ba sợi. Lại còn bonus hình ảnh nữa. Vậy mà hay. Không khuôn phép gì ráo. Bạ đâu nói đó. Gốc nông dân Nam bộ là vậy. Bây giờ mới biết anh cũng từng “tá túc” nhà tui, còn tui ở đậu nhà anh Châu Đốc và Long Xuyên khi kiếm cơm áo ở Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) (từ 70) & Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) [từ 75 tới 80 rồi xuống “the river of no return” của Robert Mitchum]). Tui nhớ trường Bồ Đề (Cần Thơ) như in vì mỗi chiều (yes, mỗi chiều) tui đi qua lại từ nhà sách Văn Nhiều (38 đường Ngô Quyền, anh là thầy giáo chắc phải ghé nhà sách này?), băng qua đường Nguyễn An Ninh, tới đầu đường Nguyễn Trường Tộ, qua trường Bồ Đề, đi vài trăm thước là tới nhà “em yêu” (xéo Tây Đô bóng bàn).

Tiếc là thời đó mình hổng có duyên gặp nhau. Ở Châu Đốc tui thường cà phê với Khai Phá, nhà thơ Thần Liên Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu…

Vui và khỏe nghen Hai Trầu.”
TBT
(Ngày 26.10.2020)

Cảm ơn anh Trần Bang Thạch.
Vậy là hồi đó anh quá hạnh phúc, được gặp các tác giả mà nhiều người mến mộ như “nhà thơ Thần Liên-Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu…”. Vui quá! Chắc hôm nào anh thấy hứng thú, xin anh kể cho nghe về các vị tiền bối ấy nhe! Giờ mới sực nhớ quê anh hồi đó là làng Thường Đông, Cái Răng, Cần Thơ; rồi anh chạy giặc tản cư vô Trà Lồng năm nào mà anh nhớ và viết rất cảm động:

“Giữa tiếng đạn bom mỗi lần chạy giặc
Giữa lác, đưng, đỉa, muỗi Trà Lồng
Đôi tay mẹ như mây trời bát ngát
Một cánh cò vất vả nuôi con.”

Từ làng anh tới Trà Lồng có xa lắm hông và bơi xuồng theo con rạch nào vậy anh?

“Anh Hai Trầu,

Chuyện hồi nhỏ của tui dài lắm anh vì nó bắt đầu lận đận từ 2, 3 tuổi tại một xẻo nhỏ là Xẻo Môn (sau nầy thuộc xã Long Thạnh, trên đường Cần Thơ – Phụng Hiệp). Lúc đó còn nhỏ quá mà phải di chuyển thường xuyên, chỉ nghe và nhớ tên các địa danh như Trà Lồng, Trà Cú, Ngã ba An Trạch… còn tới đó bằng ngả nào thì tui chịu!

Thời gian 5 năm ở Châu Đốc là tuyệt vời. Học trò, phụ huynh rất trọng người thầy. Tui thấy ai cũng hiền như Phật. Mỗi lần có đứa học trò sắp đi lính là thầy trò có dịp say từ giã trên đỉnh núi Sam. Nghĩ thật tội lỗi: nhiều lần tụi tui chơi tới bến trong sân chùa Cô ba Tràng (chắc anh biết chùa này?). Thời gian này nếu tui muốn chuyển về quê quán thì cũng được, nhưng quen đất, quen người không muốn xa. Về Long Xuyên từ sau 4/75 là do nhu cầu của họ khi trường Thoại Ngọc Hầu đổi thành Cao đẳng Sư Phạm. Tui ở nội trú trong trường cùng với các người gọi là giáo viên chi viện từ miền Bắc. Chán muốn chết (gặp họ ngày lẫn đêm!). 

Tui cũng thích đọc Song Thao lắm, ông ấy dùng vốn hiểu biết rộng với cái nhìn rõ nét từng sự việc bình thường. Gần đây tui ít xem báo nên không theo dõi được sinh hoạt làng văn.

Rất mừng anh còn giữ phong độ.

Chúc vui,
TBT
(Ngày 27.10.2020)

Dà, cái lễ nghĩa “trọng thầy” là do cái nếp nhà anh à! Hồi lớp tụi tui còn nhỏ xíu mỗi lần gặp thầy từ xa xa là trốn vì sợ thầy gặp, mà rủi tới gần, hổng cách nào trốn khỏi, là khoanh tay cúi đầu chào thầy rất kính nể. Hồi các lớp nhỏ bậc sơ học, tiểu học là thầy ưa đánh đòn mỗi khi dọn bài mà học trò hổng thuộc, mình sợ đã đành; mà khi lớn rồi và bắt đầu vào lớp Đệ Thất bậc trung học các thầy hết dùng roi vọt mình cũng rất sợ thầy dù thầy rất ít khi rầy mình! Dường như hồi đó học trò làng, học trò tỉnh vùng sông nước miền Tây của mình, nói chung, đâu đâu cũng đều kính trọng các thầy là vậy; chẳng những vậy mà các bậc cha mẹ, phụ huynh đều kính trọng thầy hết mực anh à! Bởi vậy, hồi xưa mới có mấy câu thuộc nằm lòng như: “Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”; hoặc “Kính thầy mới được làm thầy”; hoặc “Không thầy đố mầy làm nên”, đó anh!

Tui còn nhớ hồi đó, lúc ở Cần Thơ của anh, tui chỉ dạy giờ ở vài trường tư thục như trường Bồ Đề, trường Tân Văn, trường Hậu Giang đâu chừng một niên khóa, rồi tui đổi đi ra Nha Trang khoảng vài ba năm, rồi sau cùng tui lại được hoán đổi để về lại Sài Gòn, vị chi tui xa Cần Thơ của anh khoảng hơn năm năm, vậy mà tới khi tui về lại Kinh Năm (Chương Thiện) phá rừng tràm, đào kinh lên liếp trồng khóm gặp lại học trò cũ ở Tân Văn, ở Bồ Đề cũng vô đây đào kinh lên liếp trồng khóm, có hai em lại hỏi tui:

“Dạ, Thầy còn nhớ em hông?”

Tui trả lời:

“Lâu quá, thầy quên các em rồi. Em tên gì?”

Hai em đáp:

“Dạ, Em là Tâm; còn em là Bình học ở Bồ Đề và Tân Văn với thầy hồi thầy dạy lớp Đệ Lục đó!”

Rồi tui lại hỏi học trò:

“Sao hai em cũng vô đây?”

Các em mới trả lời:

“Ở nhà má em vì sợ tụi em ở nhà đi chơi, nên gởi hai em vô phường học, rồi phường đưa tụi em vô đây!”

Thiệt là quá cảm động phải hông anh Thạch? Chẳng những vậy mà sau này khi các em được về trước, mình còn kẹt ở lại, các em lại cụ bị đường, bột, gạo, sữa xách đầy giỏ đệm trở vô Kinh Năm thăm thầy mấy lần! Thiệt là tới bây giờ nhắc lại với anh mà tui còn muốn ứa nước mắt!

Chợ cổ Cần Thơ | Du lịch Ninh Kiều | Dulich24
Chợ cổ Cần Thơ – nguồn: Internet

Dà, nhắc đến Cần Thơ của anh, tui có rất nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm trước tiên là mấy kỳ xuống Cần Thơ của anh dự các kỳ thi Tú Tài I, Tú Tài II rồi tới khi đi nghe kêu kết quả nữa, có lúc lọt sổ, ôi thôi, Cần Thơ của anh lúc bấy giờ buồn thúi ruột! Có lần tui đi chung với anh bạn cùng làng để nghe kêu kết quả kỳ thi Tú Tài II, tui thì vần T nên số báo danh của tui được kêu trước và tui đậu dù chỉ đậu hạng “thứ” thôi anh à; còn anh bạn tui có vần X số báo danh lớn hơn và ở gần cuối danh sách, ảnh bị lọt tên, rồi tui cũng đâu có vui sướng gì anh khi bạn mình đang buồn!

Mà hồi đó (mấy năm 1963, 1964) Cần Thơ đối với học trò các tỉnh nhỏ tụi tui lần đầu xuống Cần Thơ là thấy Cần Thơ quá lớn, nhà nhà sung túc, phố xá tấp nập, nhứt là các con đường như đường Phan Đình Phùng chạy băng qua thị xã thì sầm uất, nơi có trường trung học tư thục Tân Văn nằm xéo xéo rạp hát Minh Châu, vui quá!

Sau này có dịp trở lại Cần Thơ mấy năm 1966-1967, quan sát kỹ tui thấy Cần Thơ của anh có đại lộ Hòa Bình, rộng thênh thang với ngôi trường Thọ Nhơn dạy chữ Tàu, rồi có Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV nữa! Ngoài ra, khi Cần Thơ có Viện Đại Học thì gần khúc trường Thọ Nhơn có văn phòng của Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ và văn phòng Tổng Thư Ký của viện Đại Học nữa. Còn con đường Ngô Quyền có nhà sách Văn Nhiều mà có lần anh kể cho tui nghe là từ Cái Răng khi anh ra Cần Thơ theo học lớp Đệ Thất trường trung học Phan Thanh Giản anh trọ ở đó vì ông cậu ruột của anh là chủ nhà sách Văn Nhiều này. Tui mới kể chuyện với bà xã tui về anh và nhà sách Văn Nhiều, bà xã tui có biết tên nhà sách này vì hồi trước, khoảng năm 1970-1975 nhà sách Văn Nhiều thường hay đặt mua các sách báo ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp nơi Bookshop nằm ở số 41E đường Ngô Đức Kế (Sài Gòn) chỗ gần góc đường Ngô Đức Kế & Nguyễn Huệ vì lúc bấy giờ bà xã tui làm kế toán ở đó nên còn nhớ tên nhà sách Văn Nhiều (Cần Thơ), khá quen thuộc!

Cần Thơ của anh tui có biết con đường Cống Quỳnh về hướng vô vườn Thầy Cầu, cách cầu Đôi Mới chừng vài ba trăm thước, xéo xéo bên kia bờ rạch Cái Khế là chùa Sư Nữ với tiếng chuông chùa văng vẳng đưa sang bên này đường vào mỗi sáng mỗi chiều làm tui nhớ ngôi chùa Tân Phước Tự làng quê tui hồi những ngày còn nhỏ sống ở làng Tân Bình (Lấp Vò).

Những địa danh mà tui ở trọ lúc mới về làm cu li ở Cần Thơ là căn nhà gần chùa Cây Bàng, nằm sâu trong con đường tráng xi măng từ chợ cầu Xã Đài (hay Cả Đài gì đó lâu rồi tui quên tên, chỗ này nhà thơ Trần Phù Thế nhớ rành lắm vì có lúc ảnh ở gần chỗ này); có lúc tui ở hẻm Hai Địa đường Phan Thanh Giản; rồi sau Tết Mậu Thân, tui dời qua hẻm số 2 đường Nguyễn Trãi trọ, chỗ gần nhà đèn Cần Thơ; còn cơm tháng thì có lúc ăn cơm tháng chỗ chị Sáu đường Ngô Quyền, có lúc ăn cơm tháng chỗ Dì Tư nơi Ụ Tàu, chỗ gần chợ Cái Khế trên đường đi Long Xuyên. Nhắc qua những lần tui ăn cơm tháng chỗ này chỗ kia như vậy, giờ nhớ lại mình cũng lang thang quá mạng phải hông anh?

Hồi đó, nhớ lại lúc ở Cần Thơ của anh tui ít đi chơi chỗ này chỗ kia dù làm cu li ở đó khoảng gần hai năm; lúc bấy giờ tui có biết vườn sầu riêng Thầy Cầu trong ngọn rạch Cái Khế tới mùa sầu riêng bà con ưa vô vườn mua trái cây như sầu riêng, vú sữa; ngoài ra, gần bắc Cần Thơ, cách chợ Cái Khế một đỗi, phía tay mặt có một vườn ổi xá lị rộng lắm và có mận nữa, tới mùa đông ken trái oằn nhánh, khách thăm vườn đông lắm!

Ở Cần Thơ của anh mấy năm đó, cách nay hơn nửa thế kỷ, tui có nhận xét là những con hẻm trong tỉnh lỵ Cần Thơ của anh có cái vui là hẻm nào cũng có vườn tược xanh um, cây trái mát rượi mà nhứt là món mận, món quít, món cam, món bưởi khi tới mùa trổ bông, bông mận, bông cam, bông quít, bông bưởi nở rộ và gió mang theo mùi thơm của các loại bông này lan tỏa khắp cả một vùng! Thơm dữ lắm, nhiều lúc tui cứ tưởng hổng có bông gì tinh khiết và thơm cho bằng các loài bông mận, bông bưởi, bông cam, bông quít đơn sơ và chất phác như các loại bông này!

Đó là nhắc về những ngày đi thi Tú Tài 1, Tú Tài 2, và những ngày đi làm cu-li ở Cần Thơ; còn về sau này có lúc tụi tui ở Long Xuyên cùng bị đưa xuống Chủng viện Cái Răng chỗ quê gốc của anh, trong đó có nhiều anh bác sĩ làm ở Bịnh viện Long Xuyên, có anh TBĐ (Chánh sở Học Chánh Long Xuyên), có cả mấy ông chánh án và nhiều bạn học hồi trước ở Long Xuyên cũng cùng đi xuống Cần Thơ của anh dịp này. Chủng viện Cái Răng tui nhớ chừng dường như cách cầu Cái Răng hổng xa lắm! Nếu mình từ trên Cần Thơ đi xuống theo quốc lộ số 4, về hướng đi Sóc Trăng thì khi xe vừa qua cầu Cái Răng là quẹo tay mặt liền và xe chạy một đỗi đâu chừng chưa tới một cây số là tới Chủng Viện Cái Răng liền hà! Tui chỉ biết quê Cái Răng của anh chỉ có chừng ấy nhưng sao cứ nhớ hoài hà! Chắc có lẽ đó là khoảnh khắc mà mình không có ý đi tu nhưng lại lê bước chưn vào chủng viện Cái Răng rồi ăn và ngủ ở đó ba khoảng bốn tháng nhưng lúc bấy giờ nghe trong lòng nó dài thườn thượt!

Ở đây, mấy ngày đầu tụi tui bắt đầu làm rẫy trồng cải, trồng rau muống, trồng cà… Đâu chừng ba bốn tháng thì nửa đêm, một số chuyển xuống tàu và tàu chạy hoài, chạy hoài đâu chừng gần cả ngày thì tàu ủi vô bãi bùn đầy dừa nước. Hồi đó cả mấy trăm người cứ lơ mơ chẳng biết mình đang bị đưa đi đâu, về đâu? Với một tâm trạng hoang mang cùng tột lại nhớ câu Kiều để tự an ủi mình thôi anh Trần Bang Thạch:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”

Mà thực tình ra, lúc bấy giờ hổng “nhắm mắt” mình cũng chẳng biết phải làm gì hơn nhe anh! Sau này định thần lại rồi nghe người này nói, người kia kể là tàu đi theo lộ trình là bắt đầu vô rạch Cái Răng của anh, rồi vô kinh xáng Xa No, ngang qua chợ Vị Thanh, vô chợ Hỏa Lựu, vô cầu đúc Cái Sình, vô Kinh Năm, vô vùng rừng tràm bạt ngàn thiên dã ngày ấy cách nay cũng gần nửa thế kỷ rồi…

Anh biết hông, khi tàu ủi mũi vô tới bãi dừa nước, là từng người, từng người quẩy nồi niêu áo quần men theo con đường mòn của con kinh vậy là cứ đi miết, đi miết đâu chừng cả hơn cây số, là bắt đầu vô các trại vừa mới cất bên bờ con kinh còn hoang địa ấy. Vậy mà rồi tui ở đó mút mùa lệ thủy, hổng biết ngày dìa luôn nhe anh!

Công việc mỗi ngày lúc bấy giờ là đào kinh, đi rừng đốn tràm, móc gốc tràm để có đất cấy lúa, đào liếp làm rẫy, rồi trồng khóm mà trong thơ anh có nhắc “Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ” là trúng y boong đó, vì khóm ở đây cũng như khóm cầu đúc Cái Sình ngọt hổng thua khóm Bến Lức, Tân An anh à! Mà vùng này, người Tiều ở rải rác, xa xa mới có một nhà nhưng nhà nào cũng có trồng nhiều khóm, họ sống với nghề trồng khóm lâu đời; có nhiều rẫy khóm lão, tuổi đời có tới mấy chục năm hơn!

Sau mấy tháng làm đủ thứ nghề, có một hôm người ta hỏi anh nào biết lội, tui do dự một hồi rồi giơ tay nói tui biết lội đại hà! Mà hồi xưa con nít ở nhà quê như mấy anh em mình, đứa nào mà hổng biết lội anh Thạch, nhưng lội bập bũm vậy thôi chứ làm cái nghề lặn lội dỡ chà là phải lội giỏi và lặn dài hơi mới làm nổi chứ lội như mình còn lâu mới theo nổi cái nghề này! Thế là tui thuộc vô tổ chất chà và dỡ chà tức là cái tổ chuyên ở trần với cái quần xà lỏn mút mùa chỉ để lội và lặn làm cái nghề chất chà dỡ chà bắt cá dọc theo hai con sông chảy ra vùng ngã ba nước trong tời tuốt xuống vùng Vĩnh Thuận, xa lắm mà tui thì hổng rành địa thế ở đó nên hổng dám tán rộng anh Thạch ơi! Vì lặn dở nên khi tui nín thở để làm cái chuyện nhổ chà, rồi gạn lưới bắt cá ở mấy chỗ sông sâu, nên hồi đó mỗi khi lặn xong một đống chà tui hay bị lùng bùng hai lỗ tai như có ai táng mạnh vô lỗ tai mình vậy đó; và có lẽ bị vậy mà giờ, khi về già, tui bị điếc quá nặng đó anh!

Thế rồi, tui làm nghề chất chà được đâu khoảng bốn năm có hơn với khoảng trên 30 đống chà chất dọc theo hai con sông nằm hai bên đầu kinh Năm chạy dài xuống tới kinh Zéro thuộc vùng Hỏa Lựu, Long Mỹ đó; với số chà nhiều như vậy nên ngày nào tụi tui cũng đi dỡ chà cứ xoay vòng, xoay vòng hoài hà; nay dỡ đống chà này, mai chất đồng chà dỡ mấy hôm trước rồi ngày mốt lại dỡ đống chà kế tiếp; hồi xưa ông bà mình hay nói “làm mệt nghỉ” nhưng tụi tui làm mệt mà hổng có ngày nghỉ, suốt mấy tháng trời nắng vùng này cho tới mùa mưa thì cá lên đồng, tụi tui gom chà vô mé chờ mùa tới lại chất chà tiếp; cực lắm nhưng bù lại được đi lặn lội ngoài sông cái và có cá tôm ăn lúc hoạn nạn hồi đó vậy!

Rồi đến một hôm tụi tui nghỉ dỡ chà và nằm chờ… Đùng một cái có lịnh kêu tên và cụ bị quần áo qua bên hội trường và lý do thì hổng biết để làm gì! Sau ba điều bốn chuyện tụi tui gồm 10 anh em xuống một chiếc tắc ráng và bỏ nghề dỡ chà ở Kinh Năm từ đó. Lúc bấy giờ bắt đầu đi thì từ Kinh Năm, tui nhớ chiếc tắc ráng chở tụi tui đi ra chợ Long Mỹ, rồi ra ngã ba Hòa An, xuống Phụng Hiệp chỗ ngã bảy Phụng Hiệp nằm bên cạnh quốc lộ 4 đường Cần Thơ đi Sóc Trăng, rồi vỏ lải lại trực chỉ rạch Cái Côn mà chạy tới chợ Cái Côn rồi quẹo mặt theo sông cái Hậu Giang và rồi ghé lại chỗ lò gạch Cái Côn gần rạch Cái Cau cũng đâu gần tối mịt mới lui cui dọn đồ lên bờ! Mọi thứ lại thêm một lần bỡ ngỡ nữa vì lạ nước lạ cái nhe anh Thạch!

Ở đây nói là lò gạch Cái Côn, chứ khi tụi tui tới thì có một số anh em cùng hoàn cảnh như mình đã có ở đó trước rồi, và tui chẳng thấy lò gạch chỗ nào, mà nhìn chung quanh chỉ thấy cái nền rộng trên một khu đất mà hồi đời trước ở đây người ta có một lò gạch sẵn nhưng nay dường như chỉ còn cái nền thôi! Thế rồi tụi tui làm quen và hòa hợp với mấy anh em trước để bắt đầu những ngày mới! Có cái này vui lắm nhe anh Thạch, trong cuốn Mùa Màng Ngày Cũ, nơi “Mùa làm gạch”, tui có viết:

Việc làm gạch in ngói, nói đúng ra là không có mùa vì gạch ngói in trong nhà, không in ngoài sân, ngoài đồng như nhiều nghề khác. Nói thế nhưng nghề làm gạch là mùa nắng thích hợp nhứt. Vì mùa nắng tiện cho việc làm đất, mà cũng tiện cho việc phơi gạch, vô lò và ra lò nữa. Nhưng trước khi kể qua các công việc quen thuộc ấy, chúng tôi xin nhắc qua một chút về việc xây lò gạch.

https://lh4.googleusercontent.com/cenGRZ1X-Y-O62Lzz_FItNjtZzNPXeZGp0I_8fX0DYJPxuE3ff2bcwe2x7qZLKm0-u0ZRQZOsWiD4BxoXsPK2tkMcckPWVadydipVLfoRKz8AyC5laft2Ai6xA95gu4fOkiPRl8c3CaFoMSc8g
Lò gạch vùng Vĩnh Thạnh (Lấp Vò-Sa Đéc) – (Hình do anh Trần Nhiếp chụp)

Trước nhứt bạn muốn xây lò gạch, bạn nên có một sở đất không trồng được loại cây ăn trái gì vì đất nơi ấy là đất sét; mà đất sét trồng cây không tốt nhưng làm gạch ngói rất tốt. Rồi bạn sẽ mướn nhơn công đào gánh đất đắp nền lò gạch, đắp nền nhà in gạch, nhà phơi gạch. Rồi còn phải thêm phần đất để dùng vào việc in gạch nữa. Do vậy, một khuôn đất dựng lên lò gạch tương đối phải hơi rộng mới đủ, bằng không thì lò gạch dựng lên như ở Rạch Gòi Lớn, Rạch Gòi Bé (Long Xuyên) rất nhỏ.

Thông thường, theo thợ lò chuyên nghiệp mấy năm chúng tôi về làm lò gạch Cái Côn (Cần Thơ) bên bờ sông Hậu Giang, thì muốn một lò gạch chứa đựng được 100.000 viên gạch để nung cho chín thì phải dùng 100.000 viên gạch xây lên lò gạch ấy. Lò gạch có thể là hình vuông, hình tháp hoặc hình trụ tròn có nóc ở trên. Nhưng trước hết là nền lò gạch phải vững chắc kiên cố thế nào để khi xây 100.000 viên gạch lên cái nền ấy mà không bị lún, bị nghiêng thì đó là cái nền lò lý tưởng nhứt.

Nhớ năm ấy, khoảng 1980, toán chúng tôi gồm mười anh em về lò gạch Cái Côn cùng với một số anh em có tại đây trước cùng nhau bắt đầu đào móng đóng cừ tràm xây lò gạch đầu tiên nơi này. Móng thì hình vành khăn tròn, bề ngang khoảng một thước. Với số tràm cừ cây bằng cườm tay, dài ba thước, tổng cộng là 10.000 cây tràm cừ phải đóng hết xuống chưn móng lò gạch dự trù xây lò 100.000 viên như vừa kể. Hồi ấy mình dù còn trẻ nhưng cũng đã qua gần năm năm phá rừng đào liếp khóm rồi nên tay chưn cũng rã rời mỏi mệt dữ lắm. Thế nhưng nay lại phải đóng thêm 10.000 cây cừ tràm sâu xuống 3 thước, từ cây cừ này cách cây cừ kia chỉ một tấc tây, thì thiệt tình chỉ nghe thôi là đã ớn rồi nói gì đóng cho hết số cừ tràm khổng lồ ấy. Vậy mà rồi chúng tôi hai ba anh em theo một cái chày vồ và lần lượt đóng cừ như vậy suốt cả tháng trời! Lúc đầu cố gắng đóng lút cừ; chỗ đất nào mềm cừ dễ xuống sâu, còn chỗ nào gặp đất sét cứng thì cũng rán đóng cho hết chiều dài cây tràm cừ 3 thước như vậy. Mỗi ngày gặp nhiều vùng đất cứng đóng cừ hết xuống nổi, chúng tôi lại càng thấy sức mình quá mỏi mệt. Về sau này khi quen công việc rồi thì chỗ nào đóng cừ xuống tới đâu thì đóng, còn chỗ nào gặp đất cứng cừ hết xuống nữa thì anh em cùng nhau dùng búa chặt ngang phần cây cừ tràm còn lại. Do vậy mà sau này càng đóng cừ càng mau vì số tràm bị chặt lại khá bộn và số này cũng không mất mát đi đâu, chúng tôi chặt ra và chẻ củi cho nhà bếp làm củi nấu cơm. Và đặc biệt là nền lò gạch vẫn không bị lún hoặc nghiêng đổ gì. Có lẽ dùng tới 10.000 cây cừ tràm là quá nhiều rồi chăng?

Giai đoạn đóng cừ là ngán nhứt nhưng rồi cũng qua. Kế tới là đi mua gạch về để xây lò. Gạch thì nặng mà sông Hậu Giang có khi nước ròng sát, ghe xuồng đậu xa bến, chúng tôi phải vác gạch xuống ghe rồi vác gạch lên bờ chuẩn bị xây lò. Với 100.000 viên gạch như vậy mà vừa vác xuống ghe rồi lại vác lên bờ biết bao là cực, nhưng rồi cũng vác xong nhưng tối ngủ nhúc nhích cục cựa gì cũng thấy ê ẩm mình mẩy không bút mực nào kể cho xiết.

Có gạch sẵn rồi là bước qua giai đoạn kế tiếp cho ghe qua Trà Ôn chở cát về làm hồ xây lò. Không biết kỹ thuật tân tiến ngày nay xây lò gạch bằng loại hồ gì nhưng vào khoảng trước nữa cho chí tới mấy năm 1980-1983, chúng tôi thấy xây lò gạch có cái vui là không ai xây lò bằng xi măng như xây nhà mà phải dùng bùn non trộn với cát cồn làm hồ xây lò gạch. Khi hồ bằng bùn non và cát cồn gặp lửa hầm gạch nóng lên cát sẽ chảy ra thành chất thủy tinh kết dính các viên gạch lại với nhau nên lò gạch không bị nứt bể; còn nếu bạn dùng xi măng xây lò với sức nóng của lửa nung gạch không cách gì xi măng chịu đựng nổi sức nóng ấy được và lò gạch sẽ bị nứt bể. Còn trộn hồ xây lò gạch, người ta đào một cái hầm bề ngang khoảng ba thước, bề dài chừng bốn hoặc năm thước, chiều sâu chừng năm hoặc sáu tấc rồi xuống sông hoặc xuống hầm gần đó xúc bùn lên đổ vào hầm này; sau đó đổ cát cồn vô trộn đều miễn sao ông thợ chánh thấy hồ có độ dẻo vừa xây lò được là ngưng lại và bắt đầu dùng hồ này xây lò. Khi mẻ hồ bùn với cát này hết, người ta bắt đầu trộn thêm mẻ hồ khác. Nhưng thường thường người ta canh làm sao mỗi ngày chỉ trộn một lần hồ dùng đủ cho cả một ngày thôi, hôm sau sẽ trộn mẻ hồ mới cho ngày hôm sau; có như vậy nhơn công đỡ phải vất vả và mệt nhọc.

Còn việc xúc cát giữa cồn gần chợ Trà Ôn cũng cực nhưng cực gì thì cực miễn sao có đi qua chợ Trà Ôn rồi lên chợ uống cà phê, mua bánh trái ăn thì thấy cũng bớt cực chút đỉnh. Khi ghe qua tới Trà Ôn chỗ cồn mình định xúc cát vào lúc nước đang lớn và cho ghe cắm sào bỏ neo đậu ngay trên nền cồn cát mới nổi ấy. Thế rồi cơm ghe bè bạn lo cơm nước ăn uống xong là ngủ một giấc chờ tới khi nào nước ròng cát lòi lên và chiếc ghe đang nằm khơi trên mặt cồn cát, anh em lại hè nhau mỗi người một cái len miểng chia làm hai toán qua hai bên hông ghe xúc cát vô len và bơi lên ghe. Và cứ vích cát lên ghe vậy hoài cho tới khi nào nhắm ghe cát gần đầy và thấy nặng nặng là ngưng lại, tắm rửa thay quần áo chờ nước lớn ghe cát nổi lên là quay ghe về lại Cái Côn. Về tới lò gạch Cái Côn lại bắt đầu gánh cát lên bờ rồi hôm sau hoặc vài ba ngày sau lại qua Trà Ôn chở cát tiếp cho đến khi lò gạch xây xong mới thôi chở cát nữa.

Công việc xây lò gạch là do ông thợ cái đứng ra xây, chúng tôi chỉ phụ mang gạch và vác hồ cung cấp cho ông thôi. Có một điều rất tài tình là ngoài những vật liệu là gạch, cát và bùn non thôi, kỳ dư không có vật liệu nào khác chống đỡ nhưng những người thợ chánh xây lò gạch họ đã xây được những lò gạch như các bảo tháp vừa cao vừa lớn mà khi mình bước vô bên trong lò bỗng thấy mình vô cùng bé nhỏ trước một không gian mênh mông bên trong lò gạch sản xuất 100.000 viên gạch như vậy.                                     

Tưởng cũng nên nhắc qua một chút về khâu làm đất để in gạch. Thật ra, công việc nào làm bằng tay cũng chỉ là do kinh nghiệm mỗi cá nhân làm công việc ấy nhuần nhuyễn nhiều ngày mà ra, không ai tài giỏi gì hơn ai. Chẳng hạn bạn muốn làm đất để in ngói, in gạch tàu thì công việc trước tiên là dùng len miểng xới đất thật mỏng. Công việc này đòi hỏi làm từ từ, không gấp gáp gì và làm sao những lưỡi len xắn đất thật mỏng, đều đều bằng nhau tránh xắn đất không đều, miếng này quá dày, miếng kia quá mỏng. Vì nếu xới đất không đều sau này khi mang đất lên in gạch ngói đất sẽ bị óc trâu, in ngói dễ bị bể. Sau khi bạn xắn đất giáp mí hầm rồi, bạn ban đất lại cho bằng phẳng, dẽ-dặt và chà láng mặt đất vừa mới xới xong ấy. Sau cùng bạn xả nước vô đầy hầm nhằm mục đính ngâm đất cho đất nở ra. Sau khi ngâm nước như vậy xong, qua vài ngày sau, nếu bạn muốn in ngói, thì lại phải xả nước trong hầm đất này ra và xới đất này lại một lượt nữa; rồi cũng lại ban đất cho bằng mặt, chà láng và lại thả nước vô ngâm đất lần thứ hai. Chừng nào cần in ngói, người ta lại tháo nước ra và chuyền đất này lên bờ vun thành cây cho ráo nước và qua chừng một hoặc hai ngày sau là thợ có thể lấy đất này bắt đầu in ngói, in gạch tàu được rồi. Mỗi một hầm đất như vậy có chiều dài chừng sáu thước, chiều ngang khoảng ba hoặc bốn thước là trung bình. Thường thường trong chu vi lấy đất làm gạch, lúc nào ở dưới đó cũng có sẵn ba bốn hầm đất đã xới xong và ngâm nước sẵn như vậy. Mấy hầm đất này có cái vui là khi mình mới xới một lớp len miểng thì đất vừa tới nửa ống chưn, nhưng sau khi bạn ngâm nước vài đêm thì đất lại nở ra thêm, lúc bấy giờ lớp đất xào xới này lên cao có khi qua khỏi đầu gối. Hồi đó, hai móng chưn cái của tôi qua hơn hai năm làm đất in gạch bị hư hết, không ra móng được vì ngày nào cũng đứng sâu trong bùn như vậy.

Đó là cách làm đất in ngói và gạch tàu. Đất in gạch thẻ, còn gọi gạch tiểu, thì không cần phải xới lại lần thứ hai. Nếu in bằng tay thì chỉ một lần xới đất xong rồi ngâm nước như vừa kể là có thể lấy đất lên in gạch được rồi. Đất in gạch đại cũng vậy, không cần làm đất kỹ hai lần như vậy, chỉ xới sơ sơ, ban đất cho dẽ dặt rồi ngâm nước một đêm là lấy đất lên để ráo là in gạch được rồi.

Sau này có máy in gạch ống, gạch tiểu, gạch đại thì làm đất in bằng máy đơn giản hơn. Bạn chỉ cần bắt dây năm, mười người tùy theo chiều xa từ dưới hầm lấy đất lên tới chỗ bỏ đất xa hay gần mà số người nhiều hay ít để chuyền đất lên bờ, ngay bên cạnh chỗ nền đặt máy in gạch. Ở điểm cuối cùng này, tức là nơi bỏ đất dồn đống lại, có một hoặc hai người dùng len miểng xắn đất nhỏ lại, lâu lâu lại xách nước tưới sương sương lên đống đất vừa xới, nhưng không nên tưới ướt quá đất sẽ nhão khó in. Đất mà chứa thành đống như vậy gọi là cây đất. Tùy theo số lượng mình muốn in bao nhiêu gạch mà làm mấy cây đất để sẵn để khi cần in là có đất sẵn sàng. Hồi đó chúng tôi lúc nào cũng có ba hoặc bốn cây đất khô để in gạch ống, gạch thẻ như vậy.

Việc in gạch ống hay gạch thẻ bằng máy thì cũng đơn giản lắm. Máy chạy có thợ máy coi chừng điều khiển máy đã đành, ngoài ra có toán xắn đất cho vào máy cũng vài ba người tùy theo máy chạy nhanh hay chạy chậm. Ở đầu gạch in ra, cũng có vài người bắt gạch để lên xe rồi có người kéo xe đem gạch này đi phơi. Thường thường ở đầu gạch ra này có khoảng ba hoặc bốn xe mới di chuyển gạch vừa in xong đem đi phơi mới kịp. Gạch phơi trong những nhà phơi mái thấp, lấy cái gió làm gạch khô dần chứ không phơi ngoài nắng vì nắng nóng gắt làm gạch dễ bị nứt và bể. Gạch phơi như vậy khi nào khô gom lại chất thành từng cây, mỗi cây gạch khoảng năm trăm viên chẳng hạn miễn sao gạch chất vuông vắn không bị ngã đổ và dễ đếm để khi nào số gạch in đủ 100.000 viên là bắt đầu vô lò để đốt lửa nung gạch.

Giai đoạn vô lò chỉ có một ông thợ chánh là có quyền và chịu trách nhiệm sắp xếp gạch, từ dưới lên tới nóc lò với những đường dẫn lửa rất thông để khi đốt lò lửa cháy đều và chạy từ dưới nền lò lên tới nóc lò; còn nhơn công chỉ phụ ông mang gạch vào lò để ông chất thôi. Dường như các nghề thủ công của người Việt Nam ít có ai dạy nghề cho người khác, nên dù làm lò gạch Cái Côn gần ba năm chúng tôi chưa biết phải chất gạch vô lò như thế nào. Nhưng có điều, chúng tôi biết làm nghề thợ chánh vô lò gạch họ rất tin tưởng ông thần lò. Lò gạch nào cũng có bàn thờ ông thần lò ngay cửa ra vào và ông thợ chánh lúc nào cũng nhang đèn cúng kiếng ông thần lò rất chu đáo.

Lò gạch với sức chứa 100.000 viên gạch như vậy vô lò cũng mất gần cả tuần mới xong. Xong xuôi đâu đấy ông thợ chánh cho chất củi bên trong cửa lò và van vái ông thần lò trước khi châm mũi lửa đầu tiên đốt lò. Hồi ấy lò gạch Cái Côn chụm bằng củi cây mắm. Các ghe củi mắm chở tới bến lò gạch và chúng tôi vác củi lên chất thành từng cự dài xung quanh lò gạch để khi đốt lò mình vác củi vô lò cũng gần. Mỗi lóng củi mắm như vậy có bề dài chừng tám tấc, bề hoành cỡ ba bốn tấc tùy theo cây mắm lớn hoặc nhỏ.” (…)

Sau khoảng hai tuần từ khi bế lửa tắt lò là lò gạch đã nguội rồi. Nói lò nguội là nói chung như vậy nhưng khi chuyền gạch ra lò có chỗ gạch vẫn còn hơi nóng, đôi lúc phỏng tay. Hồi đời trước ra lò gạch thường chuyền tay, sau này nhiều lò gạch có thang để chuyền gạch xuống tiện hơn và ít nguy hiểm hơn chuyền bằng tay.

Có một điểm cũng cần nhắc là gạch dù vô lò cùng một lượt, nổi lửa đốt lò nung gạch cùng một lượt, thời gian nung gạch giống nhau nhưng gạch khi ra lò có ba loại gạch khác nhau. Thứ nhứt là gạch chưn lò. Gạch chưn lò dù ở gần bên đống lửa chụm lò nhưng gạch này xấu nhứt vì lửa rút lên trên nên độ chín của nó chưa chín lắm, gạch có màu tái tái. Thứ hai là gạch giữa lò, còn gọi là gạch lòng tàu. Loại gạch này chín màu đỏ au tốt nhứt trong ba loại gạch và nó cũng chiếm tỉ lệ rất cao trong số gạch vừa nung xong. Thứ ba là gạch trên nóc lò, còn gọi là gạch ngọn. Vì bao nhiêu lửa nóng trong lò đều theo đường dẫn lửa rút lên tuốt trên ngọn để thoát ra ống khói nên lửa ở ngọn lò là nóng nhứt. Gạch ngọn vì lửa nóng nên chín quá và viên gạch trơn láng thành da lu, nên gạch này cũng thuộc loại gạch các thợ xây nhà ít dùng vì da láng khi xây với hồ bằng xi măng hồ ít dính.”

“Có một điểm nữa khi nhắc về mùa làm gạch ngói, như một định lệ có sẵn là các thợ lò chuyên môn xây lò vô gạch dù tiền ăn công rất cao nhưng sao ông thợ nào cũng hổng được khá cho lắm nếu không muốn nói là rất nghèo. Còn nhơn công làm cho lò gạch trong việc in gạch ngói bằng tay cũng vậy; dường như người nào cũng nghèo, có khi chạy ăn từng bữa, ít khi nào có dư. Thêm nữa những cư dân ở gần lò gạch không biết sao họ cũng nghèo theo. Ngoài lò gạch Cái Côn mà tôi từng làm ở đó, nhơn công người nào cũng nghèo, mà dân tình chung quanh lò gạch ở đó cũng nghèo.”

Anh Trần Bang Thạch ơi,

Nhơn nhắc Cái Côn (Cần Thơ) của anh tui lại nhớ hồi đó nơi bến sông chỗ lò gạch này sao mà tôm nhiều quá mạng, mà trong “Mùa làm gạch” tui có ghi:

“Nhắc lại mùa làm gạch mấy năm cách nay gần năm chục năm làm tui cũng nhớ lại những ngày gian truân một thời. Tôi cũng nhớ những ngày chẻ tre đan lờ đặt tôm ngay dưới bến sông nơi lò gạch Cái Côn tọa lạc. Tôm hồi mấy chục năm trước nhiều lắm. Chiều nào tui cũng cùng vài anh em đem lờ tôm với miếng mồi dừa trắng phau xuống ngay mé sông móc vùng cạnh các gốc bần đặt lờ. Chỉ đơn giản vậy mà sau một đêm thức dậy lo làm đất in gạch để rồi tới trưa khi nghỉ ăn cơm là tui chạy ùn xuống sông dỡ lờ. Vậy mà rồi lờ nào cũng có vài ba con tôm càng lửa phơi mình trong lờ đỏ rực, thấy bắt ham. Hồi ấy, tụi tui cũng lội cặp mé sông dùng rổ xúc cá bống trứng theo mấy khóm lục bình, cỏ xước, rau muống tấp nơi các gốc bần, cá bống nhiều lắm.

Nhắc lại những năm tháng làm lò gạch cũng để nhớ những anh em sống bên nhau một thời, những người đã giúp đỡ và thương mến tui rất nhiều qua những công việc quá nặng nhọc mà nhiều lúc tui không cách gì kham nổi! Những bạn như bạn Sáu Nhỏ Hòa An, anh Sáu Bá Vị Thanh, anh Trực Thốt Nốt, anh Đính Cần Thơ, anh Tư Bồ Ót, anh Phước Cái Vồn và còn nhiều nữa những tấm lòng yêu thương giữa những ngày cơ cực ấy mà tui vẫn nhớ hoài mỗi lần có dịp ngồi ôn lại một đoạn đời của mình! Nhớ hồi ấy có lần tui đau thập tử nhứt sanh trong suốt gần nửa năm trời; lúc bấy giờ tui đứng không vững, đi phải lần vách tưởng rằng mình sẽ bỏ xác nơi lò gạch Cái Côn ấy vào những năm 1981-1982, nhưng may sao, sau năm sáu tháng đau đi không nổi ấy rồi lại mạnh lại. Xin cảm ơn các anh, các bạn, những người năm cũ ngày nào! Nay các anh và các bạn đang ở đâu?!?”

Tưởng cũng nên nhắc qua một chút về chợ Cái Côn thuộc Cần Thơ của anh cho trọn tình với địa danh này… Đây là cái chợ của quận lỵ Phong Phú nhưng chợ rất nhỏ, nằm ngay ngã ba rạch Cái Côn và sông Hậu Giang. Như mọi chợ làng quê vùng miền Tây của mình, chợ Cái Côn có nhà lồng chợ ở đó bày bán đủ thứ như mấy sạp bán vải, mấy quán cà phê, và vì chợ nhỏ nên tui nhớ dường như chợ Cái Côn hổng có tên đường mà chỉ là những con đường trong chợ nằm dọc theo các dãy phố vậy thôi, nhưng ở đây hồi đó bà con tốt bụng dữ lắm!

Nhờ hồi đó, mỗi cuối tuần, từ lò gạch Cái Côn mấy anh em tụi tui được đi ra chợ theo con đường lộ đá đời Tây đắp còn được dùng cách chợ chừng ba cây số để mua đồ lặt vặt, và mỗi lần mua tương chao hoặc nước mắm, đường, gạo…, các chị bán các hàng hóa ấy họ bán rất rẻ, chỉ lấy chút tượng trưng thôi; có chị như chị Bảy bán nước tương đựng trong mấy can nhựa chứa năm ba lít nước tương, chị tặng luôn, hổng lấy đồng nào hết nhe anh Thạch!

Rồi cũng có lần, khi tui được dìa, nửa đêm tui ra chợ Cái Côn rất sớm, chưa có ai thức hết; tui mới vô nhà lồng chợ và thấy có mấy sạp vải bỏ trống, tui mới trải tấm vải bông hồi đó tui mang theo mấy năm trường để làm mền đắp khi trời lạnh, và nằm ngủ một giấc đâu chừng khoảng chùa công phu, ba bốn giờ sáng nghe có tiếng người nói chuyện lo cụ bị tiệm quán bán cà phê, tui mới thức dậy và tìm nước rửa mặt và kêu một cái xây chừng và ngồi chờ tới giờ tàu Ánh Hồng bắt đầu đi Cần Thơ là mình xuống tàu và lên Cần Thơ của anh chỗ bến Ninh Kiều! Người bán cà phê biết tui là dân làm “lò gạch Cái Côn”, hổng phải là dân cố cựu ở đó và họ hổng có lấy tiền cà phê nhe anh! Thật cảm động!

Hồi đó, từ Cái Côn muốn đi Cần Thơ hành khách có thể đi nhiều loại tàu đò như tàu từ Kế Sách (Sóc Trăng) lên hoặc tàu từ Cầu Quang (Trà Vinh) hoặc tàu bên Trà Ôn (Vĩnh Long), nhưng ở ngay chợ Cái Côn bà con ưa đi tàu Ánh Hồng. Tàu này do một chị còn trẻ vừa là chủ vừa là tài công lái, nhậm lẹ và vui vẻ!

Vậy đó, anh Trần Bang Thạch, lai rai với anh về những gì tui biết về Cần Thơ của anh tui chỉ biết được chừng đó thôi với mớ chữ nghèo nàn trong bụng sau sáu bảy chục năm lang bạt bụi mù, nay tui quên nhiều lắm và tui cố nhớ, cố ghi như một người nhà quê già kể chuyện ngày xưa về quê Cần Thơ của anh để anh nghe chơi cho vui vậy thôi anh à; và vì tui hổng phài là nhà-văn-nhà-viết gì nên có gì trúc trắc, không gọn, lòng vòng, dám mong anh bỏ qua cho là tui mừng lắm rồi nhe anh Trần Bang Thạch!

Cầu chúc anh chị bình yên, mạnh giỏi và vui vẻ nhen!

Thân tình,
Hai Trầu
Houston, ngày 15.11.2020