Chúc Mừng Sinh Nhật Nhà Thơ Lữ Quỳnh

Related image
Nguồn: https://en.picmix.com/

Kính chúc anh Lữ Quỳnh một sinh nhật thật vui bên gia đình, người thân và bạn bè.
Trang blog TTNM và các bạn


*

Nguyễn Quang Chơn
ANH LỮ QUỲNH

Lữ Quỳnh, Kim Nhung, Minh Tâm và Quang Chơn
Đà Nẵng tháng 5/2018

Tôi quen anh không phải từ những người bạn văn chương của anh, của tôi, mà là từ con trai tôi, Quang Dũng…

Anh Lữ Quỳnh tên thật là Phan Ngô, sinh quán tại làng Mỹ Lợi TT Huế, vùng đất đã sản sinh nữ tú Từ Cung Hoàng Thái Hậu. Trước 1975, dạy học, rồi sĩ quan quân lực VNCH, ngành HC Quân Y, từng đóng ở Đà Nẵng, sư đoàn 22BB, Quy Nhơn…

Anh làm thơ, viết văn rất sớm, trong nhóm chủ xướng Ý Thức cùng Ngy Hữu, Lữ Kiều. Vợ anh, chị Kim Nhung, hương sắc quốc học Huế một thời…

Trước 1975, ở đất cố đô, nổi danh những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất, trong đó có TCS, ĐC, BY, BC, Lữ Quỳnh. Họ là những người bạn thân chia nhau điếu thuốc, chén cơm, ly rượu…

Năm 2000, anh sang Mỹ, phiêu bạt vài nơi rồi định cư ở San Jose, trên một ngọn đồi đẹp nhất vùng, Evergreen! Vì anh ở đây, Quang Dũng cũng học và làm việc ở đây. Mỗi lần bạn văn ba Chơn từ bang xa xuống chơi là Dũng đón đưa thăm viếng. Rồi Dũng trở thành người bạn trẻ của mấy bác nhà thơ, nhà văn, họa sĩ sống ở nơi này. Dũng là chuyên viên vi tính cho các bác mỗi khi cần. Và Dũng cũng thường đón các bác cà phê để nghe chuyện văn chương!…

Trước 2013, tôi chưa được diện kiến anh LQ bao giờ. Tháng 10 năm ấy, anh Đinh Cường về nước bày tranh. Trong chuyến Đà lạt, chiều, tôi ngồi nhậu với họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, nhiếp ảnh gia Micheal Phước khùng và mấy người bạn. Bỗng phone anh Thuần reo. Anh nói có anh Lữ Quỳnh lên dự khai mạc phòng tranh, nhưng bị stroke, nay mới đỡ, biết anh em mình ngồi đây nên muốn đến chơi. Mọi người đều hoan hỉ, rồi anh Thuần đi rước anh. Lát tôi thấy một người dáng cao to. Đi khập khiễng. Khó khăn bước vào. Tôi vội vã mời anh ngồi và muốn gọi thức uống. Anh nói: “Tôi còn mệt. Không thể uống ăn gì. Nhưng mai tôi phải về SG sớm. Tôi muốn đến để gặp NQC. Tôi muốn thấy người đã sinh một người con quá dễ thương là NQD.” Rồi anh nhìn tôi không chớp như dò hỏi, như xem xét. Ánh mắt anh sau cơn nguy biến trầm buồn. Chúng tôi tiếp tục uống rượu. Anh không nói gì. Rồi một lát anh đi. Anh bắt tay tôi. “Chơn có người con trai rất tuyệt”. Tôi nghe lòng vui sướng. Anh bước đi liêu xiêu. Anh Thuần dìu anh lên con dốc…

Và rồi từ đó chúng tôi thân nhau. Tôi không phải là dân văn nghệ nhưng tôi đã đọc anh từ lâu, nghe anh từ trẻ. Chừ gặp và ngồi cùng anh nhiều lần, nhiều nơi, lại càng quý trọng anh, quý trọng chị Nhung. Những con người bình dị, lớn lao trong nhân cách, chân tình trong bè bạn, tươi trẻ trong tư duy!…

Năm 2016 tôi qua Mỹ. Nghe tin anh ĐC bệnh nặng. Tôi phone rủ anh đi VA, anh đồng ý ngay không một chút chần chừ, dẫu vừa qua một cơn cấp cứu. Chúng tôi đi từ tờ mờ sáng và chặng đường bay trắc trở đưa chúng tôi đến VA đã gần nửa đêm. Lần đi này là một kỷ niệm không bao giờ quên trong tôi. Một hình ảnh bè bạn chân tình của hai anh ĐC-LQ, là tấm gương sáng để tôi soi rọi!…

Năm nay anh LQ đã 77. Tháng năm vừa rồi anh và chị Nhung về VN, chúng tôi có hai ngày cùng nhau đó đây viếng thăm Đà Nẵng thật vui. Chia tay anh chị rồi Tâm nói với tôi: “Gặp anh chị Quỳnh Nhung, em thấy mình hạnh phúc, bình yên!” Có lẽ sự chân tình, dịu dàng của anh chị đã mang đến cho những người chung quanh một thoáng yên bình trong cuộc sống ồn ào, xáo động , như “ mây trong những giấc mơ” (*)….

NQC
25.10.2018
Thân kính tặng anh Lữ Quỳnh và chị Kim Nhung

(*) tựa sách của LQ

*

Đinh Cường
BÀI TẶNG LỮ QUỲNH KHI BÓC TỜ LỊCH CUỐI

Lữ Quỳnh & Đinh Cường (June 2015)

nhớ Trịnh Công Sơn

Không còn nghe tiếng tàu hụ
ngoài Bến Cảng Sàigòn đêm cuối năm nữa
Lữ Quỳnh phone từ San José
nhắc lại. ôi những đêm xưa. cuối năm
chúng ta thường cùng bên nhau
dưới tàn hoa giấy già. sân sỏi trắng.
rồi kéo nhau ra Givral ngồi
nhìn chiều cuối năm dưới phố
những mái nhà ngói đỏ. bầy chim én bay…

làm sao không nhớ Sơn phải không Quỳnh
Sơn trễ gọng kiếng xuống. mồi thêm điếu thuốc
kìa ai ngang qua bên ngoài cửa kính
kìa ai như từ khi em là nguyệt

người thiếu nữ ấy chỉ thích một màu xanh vert
cả cái valise chiều cuối năm ở xa về thăm Sơn

chúng ta đã có bên nhau những chiều cuối năm
Sài Gòn, những chiếc tàu đậu ngoài Bến Cảng
cùng hụ một hồi dài nghe nôn nao làm sao…

và tiếng hụ như đã đẩy xa chúng ta. tứ tán
chúng ta vừa về ghé thắp cây hương nơi mộ Sơn

chúng ta vừa cùng ngồi ở cà phê Tùng – Đàlạt
nhắc lại chỗ Sơn hay ngồi. Phạm Công Thiện hay ngồi
nhớ lại cả một thời lang bạt. có nhau. và
làm sao quên những cơn mưa tháng Chạp buồn ở Huế…

tháng Chạp bao giờ cũng thế. cứ như là lãng đãng
như Quỳnh nói. như Quỳnh vừa phone thăm cuối năm
nhắc lại tiếng tàu hụ ngoài Bến Cảng.

tôi ngồi im sững… tiếng phong linh từ lâu im
ngoài trời tuyết lạnh. bỗng reo leng keng nghe lạ chưa…
và lạ chưa có phone của Khanh từ Ohio. rồi trao cho vợ nói
lần đầu tiên tôi nghe giọng Sàigòn của Trần Thị Nguyệt Mai.
tôi hay nhờ chị edit bài
và chị post lên blog của chị. nhanh và đẹp

Quỳnh ơi tờ lịch cuối năm tôi vừa bóc khi chiều đâu mất …

Virginia, December 31, 2013

*

Lữ Quỳnh (nay) phác thảo Đỗ Hồng Ngọc

Lữ Quỳnh (nay)
phác thảo Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc
“ĐỪNG GIỤC CƠN SẦU NỮA SÓNG ƠI”!

đọc Sinh nhật của một người không còn trẻ,
Lữ Quỳnh,
Văn Mới 2009.

Xếp tập thơ lại, tôi bần thần cả một buổi chiều. Và bỗng nhiên, một câu thơ của Vũ Hoàng Chương – dịch Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu – hiện về trong trí nhớ: “Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi” (Yên ba giang thượng sử nhân sầu)!

Thơ Lữ Quỳnh với tôi là những làn sóng lắt lay của một thời trẻ dại. Cùng một lứa bên trời đọc Lữ Quỳnh tôi như đọc chính mình… Một nỗi buồn mênh mông, dằng dặc. Bài thơ nhỏ của anh trở thành một đề từ: Sinh nhật tôi/ Một ngày tháng chạp/ Những ngọn nến thắp/ Là hồi ức buồn… Tháng chạp, ấy là thời điểm của năm sắp qua, ấy là giờ khắc của hối hả, của vội vàng, và của những cơn gió bấc buốt lạnh, se lòng trước những tà áo trắng tan trường về… Và thơ anh, những bài thơ của mùa gió bấc đó, của tháng chạp đó, là những câu thơ quặn thắt…

Tôi cùng em đứng đợi dưới mưa chiều
Bên kia đường nghĩa địa đìu hiu
Bia mộ liêu xiêu mịt mù trong gió

(Chiều mưa trên thành phố nhỏ. tr 14)

Rồi chỉ vài trang sau đó thôi đã thấy ở một bài thơ khác của anh:

Nghĩa địa mùa này trơ mộ chí
Xe tang nào lặng lẽ chở hoàng hôn…
……………
Tay với trời cao không thấu nổi
Tuổi già mất bạn cũng mồ côi…

(Trái của đời dù đắng, tr 19),

bởi trong giấc mơ anh đã thấy:

Có tiếng vỗ tay râm ran
Trên từng hàng ghế trống
Lạnh lẽo gió thiên đường…

(Giấc mơ, tr 57)

Và vậy đó, những bài thơ gần đây nhất của Lữ Quỳnh mang một nỗi buồn hoàng hôn, mà tôi gọi là nỗi buồn “nhật mộ”, lúc mà người ta thường phải sắt se tự hỏi như Thôi Hiệu: “hương quan hà xứ thị?” (Hoàng hạc lâu). Cái hương quan hà xứ này hình như ta chỉ chạm mặt giữa hoàng hôn, những hoàng hôn tím biếc, những chập chùng khói sương, bến bờ vực thẳm. Đinh Cường có lần nói với tôi gần hai mươi năm trước: Một lần kia đứng nhìn thác Niagara, tự nhiên moi muốn nhảy xuống như “con diều bay cho vực thẳm buồn theo…”(TCS). Cái vực thẳm buồn theo đó cũng là cái vòm cao “trắng một màu mây vạn vạn đời” – bạch vân thiên tải không du du- nọ, khi người ta bỗng quay quắt tự hỏi mình: tôi là ai mà còn trần gian thế? Cho nên tôi không lạ khi Lữ Quỳnh viết: Ký ức sá gì mây trắng nữa (Đường vạn dặm, tr 33)! Cái “hương quan hà xứ” mà Thôi Hiệu nói đến chắc chắn không phải là cây đa bến nước con đò mà là một thứ quê hương nào khác, cái mà TCS bảo: “chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…” kìa!

Những bài thơ của Lữ Quỳnh dù có được ghi ngày tháng hay không ghi ngày tháng vẫn là một dòng chảy xuyên suốt: một nỗi buồn dằng dặc khôn nguôi của thân phận con người như thế đó. Không có gì khám phá mới mẻ trong hình thức hay nội dung thơ ở đây đâu – đừng tìm cho mất công – mà chỉ là những ngậm ngùi ngợi than “hình hiện” nên lời. Chỉ có thế và chỉ cần thế với thơ.

Nỗi buồn của tuổi trẻ, tuổi đôi mươi mà

Lúc mở mắt chào đời
Quê hương bừng khói lửa
Tôi cúi nhìn thân tôi
Lớn lên bằng uất hận…

(Tuổi đời, tr 96),

đã thấy biết mình “thân già như cổ thụ” (tr 94) thì khi thổi những ngọn nến tháng chạp tuổi này người ta có quyền trẻ, trẻ không ngờ, như một bức tranh hồn nhiên của Picasso.

Có một bài thơ không ngày tháng của Lữ Quỳnh như một nỗi hồi sinh, một lần cứu rỗi:

Tóc trắng mây bay lòng mới lớn
Từ em anh chợt tuổi hai mươi…

(Tình thoáng, tr 68).

Đinh Cường trong một bức tranh minh họa, đã ghi lại hai câu thơ của Lữ Quỳnh:

Lòng có trải ra trăm nghìn bến
Thì đìu hiu buốt giá thêm thôi…

Tôi không tin vậy. Cho nên chiều nay ở nơi quê nhà đọc Lữ Quỳnh tôi bỗng kêu lên: “ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi…”!

Đỗ Hồng Ngọc
(Đỗ Nghê)

*

Phác thảo chân dung Lữ Quỳnh đinhcường vẽ Huế - 28-2- 1979

Phác thảo chân dung Lữ Quỳnh
đinhcường vẽ (Huế – 28-2- 1979)

Lê Ký Thương
BẠN TÔI LÀM SÁCH

Bạn tôi vốn mê văn chương, cái chữ từ tuổi mười lăm mười sáu. Mãi tới tuổi năm mươi mới có cơ hội làm sách, mới được tận mắt nhìn những hàng chữ in vi tính tròn đều trên tờ giấy “can”, trực tiếp làm quen với “bình bài” trên “support”, mới biết phơi bảng là gì, mùi mực in hăng mũi, mùi giấy in còn tinh thơm là gì, v.v…

Đó là thời kỳ bắt đầu “đổi mới” của nhà nước. Các nhà xuất bản ở thành phố này bắt đầu hé cửa cho tư nhân hợp tác làm sách. Trăm hoa nở rộ của nhà sách tư nhân lẫn nhà sách quốc doanh. Bạn tôi trở thành người làm sách. Bỏ tiền mua tác quyền, bỏ tiền thuê in, chạy tìm nơi phát hành, ký gởi… Tất bật với công việc. Thế mà bạn vui vì được làm sách.

Bạn bắt đầu từ việc tái bản một số tác phẩm của các tác giả thân quen từ trước 75 như Sơn Nam, Bửu Ý, Đỗ Hồng Ngọc,…  Sách bạn in đẹp, thường là giấy tốt so với giấy in sách của thời bao cấp trước đó không lâu là bao. Dần dần bạn tạo được uy tín không những với giới làm sách mà còn với tác giả và các nhà xuất bản. Nếu tác giả nào có nhu cầu in sách đẹp thì thường các nhà xuất bản giới thiệu đến bạn.

Khoảng đầu năm 1996, tôi đang làm cho một công ty quảng cáo, bạn đề nghị tôi dịch quyển tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Kenzaburo Oe, được giải Nobel Văn chương 1994, bản tiếng Anh với nhan đề: A Personal Matter. Lúc đầu, tôi cũng lo ngại, vì không biết tiếng Nhật mà phải dịch bắc cầu qua bản tiếng Anh thì không ổn mảy may nào. Nhưng bạn nhắc đến trường hợp của nhà thơ Diễm Châu, dịch quyển Nuôi thù, qua bản tiếng Pháp, cũng của tác giả Nhật Bản này trước 75, do nhà xuất bản Trình Bầy ấn hành, để động viên tôi. Tôi nhận lời sau khi đọc qua nội dung sách và tìm tư liệu trên mạng, trên sách báo trong và ngoài nước về tác giả Kenzaburo Oe. Cuối cùng, bản dịch cũng xong. Tôi không nhớ chính xác mình dịch nhan đề sách là gì, nhưng bạn tôi đề nghị sửa lại là Một nỗi đau riêng . Vừa hay, vừa hợp với nội dung sách. Tôi đồng ý. Bạn tôi mang đến nhà xuất bản Trẻ xin giấy phép xuất bản. Biên tập đọc qua bản dịch, lắc đầu vì trong đó có những đoạn tả chuyện làm tình, mặc dầu tôi đã cố gắng “lựa lời mà dịch”. (Thời mới “mở cửa”, chuyện làm tình trong tác phẩm là điều cấm kỵ đối với các nhà xuất bản). Tôi hơi buồn vì công sức của mình bỏ ra, và hơn nữa là sự kỳ vọng của bạn. Nhưng bạn tôi không bỏ cuộc, đem bản thảo tới nhà xuất bản Văn Nghệ. Lúc bấy giờ, nghe nói giám đốc nhà xuất bản là người bảo thủ, nên tôi nghĩ sẽ không hy vọng gì… Tuy nhiên, trái với những gì tôi nghĩ, bạn báo cho tôi biết là quyển sách dịch sẽ được nhà xuất Văn Nghệ cấp giấp phép in với điều kiện cắt bỏ đoạn cuối chương 6 và toàn bộ chương 7 vì nội dung tính dục quá nặng, quá cụ thể. Vì vậy, văn bản tiếng Việt Một nỗi đau riêng  ở đoạn cuối chương 6 và toàn bộ chương 7 không có trong bản in năm 1997.

Cùng năm này, tôi giới thiệu với bạn tác phẩm kinh điển Phù thủy xứ Oz của L. Frank Baum mà tôi đã dịch từ năm 1972. Sách cũng được nhà xuất bản Văn Nghệ cấp giấy phép in. Trước thời điểm cuốn sách phát hành không lâu, đài Truyền hình Thành phố chiếu phim Phù thủy xứ Oz, có lẽ nhờ vậy mà sách bán khá nhanh.

Từ đó, tôi cộng tác với bạn ở khâu dàn trang sách và thỉnh thoảng trình bày bìa sách. Năm 1998, nhà văn trẻ Phan Triều Hải, con trai của bạn, được tham dự một khóa học viết văn do trường Đại học Iowa (Mỹ) tổ chức. Kết quả sau khóa học và những chuyến tham quan trên đất Mỹ, Hải mang về một tập ký sự có tên: Đi học. Bạn nhờ tôi dàn trang đồng thời vẽ một số minh họa. Từ lâu, tôi rất mê những minh họa trong truyện Con lừa và tôi của nhà văn Nobel Juan Ramon Jimenez – nét vẽ đơn giản mà sang trọng. Tôi ước ao được thực hiện một cuốn sách như vậy cho riêng mình. Tôi nhận ra đây là cơ hội để thực hiện một phần ước mơ của mình. Tôi đề nghị bạn thay vì vẽ “một số minh họa”, tôi sẽ minh họa cả cuốn sách, nhưng yêu cầu Hải cung cấp đầy đủ hình ảnh cho tôi có cơ sở để vẽ. Và Hải cũng đã giúp tôi thực hiện được ý định này. Vài năm sau, quyển Đi học được tái bản cũng cùng nhà xuất bản Trẻ, cũng giữ y nguyên những trang có minh họa như bản in lần đầu…

Bẵng đi một thời gian dài, thay vì làm sách, bạn lại tiếp tục làm thơ. Tập thơ Những giấc tôi và tập nhạc phổ thơ của bạn Thành phố mùa đông được hoàn thành và đã xuất bản. Thơ và nhạc phổ thơ của bạn, theo tôi, còn vương vấn một chút nhớ, một chút thương. Và giờ này, bạn tôi vẫn tiếp tục làm sách. Nhưng làm sách cho riêng  bạn và cho những người thân quý trong gia đình.

Sài Gòn 2015

­*

Lữ Quỳnh
phác thảo của Phan Tấn Hải

Cao Kim
VỀ THU XẾP LẠI…*

“Hôm nay Sài Gòn chỉ mưa có hai mươi phút rồi nắng nóng thật khó chịu…”
“Đêm qua Sài Gòn mưa lớn quá, mình không ngủ được. Nằm nghe mưa xối xả ngoài trời!!!”

Liếc qua những dòng email ngắn ngủi, người đọc dễ hình dung ra một “dân Sài Gòn” nào đó đang tâm tình với bạn ở xa. Nhưng không, chính là một người Sài Gòn nhận email của kẻ đang sống xa Sài Gòn đến nửa vòng trái đất. Đọc thư bạn, lòng cứ rưng rưng. Bạn yêu nơi này quá, yêu và theo dõi từng đổi thay nhỏ nhặt của thành phố nhiều lần hơn chính những người đang sống tại đây. “Người Sài Gòn” mỗi buổi sáng muốn biết tình hình Sài Gòn chỉ cần mở máy tính, đọc “meo” bạn gởi từ khu Bolsa xa xôi trong lòng nước Mỹ là có thể hình dung ra “không khí Sài Gòn” bên ngoài khung cửa sổ của họ.
Có nhiều lý do để bạn ra đi, nhưng có thể còn nhiều lý do hơn nữa để bạn muốn quay về. Không có lý do nào là đúng hay sai, chỉ tại cuộc đời luôn bắt ta phải chọn lựa, cuộc đời bắt ta phải biết hy sinh. Tôi chưa bao giờ hỏi bạn về những chọn lựa của bạn, như thế khác nào chạm đến một nỗi niềm riêng mà bạn không hề muốn tỏ lộ. Tôi chỉ lặng lẽ đọc email bạn gởi, hình dung ra cảnh vợ chồng bạn nằm trong ngôi nhà ấm cúng tiện nghi trên đất Mỹ mà không ngủ được vì tiếng “mưa Sài Gòn” xối xả ngoài trời!
“… Dù công việc bận rộn thế nào, chỉ chợt nhìn thấy ánh trăng khuya trên nền trời bạc phếch của xứ người là tha hồ cho mình nghĩ ngợi, nhớ đến ánh trăng quê nhà và những cảnh, những người thân quen đang sống dưới ánh trăng ấy…”
Bạn đếm từng ngày giữa khoảng cách hai lần xa xứ. “Hai năm chín tháng là một giai đoạn quá chông chênh của đời mình…”, dù bạn cũng không quên kể về những buổi sáng mù sương hay nắng thật đẹp, cảnh những rừng thu lá đỏ không thể tìm thấy ở Việt Nam, những chốn vui chơi hiện đại và những con người cực kỳ lịch sự luôn luôn nở nụ cười thân thiện trên môi.
Rồi một buổi sáng đẹp trời, hộp thư hiện ra địa chỉ quen thuộc của bạn, nhưng lần này là sự reo vui: “Mình đã lấy vé về và đang thu xếp…”. Bạn đang thu xếp dù còn những hơn hai tháng nữa mới đặt chân vào khoang máy bay. Có lẽ thời gian thu xếp không cần phải dài đến thế. Có lẽ chuyện thu xếp chỉ là cái cớ để bạn có thể tận hưởng cảm giác tuyệt vời khi biết chắc ước mơ của mình sắp trở thành hiện thực, như trẻ con vẫn thường mang cảm giác nôn nao nhất là vào những ngày giáp Tết. Bạn thu xếp hành trang hay bạn đang thu xếp đời mình?
Bạn về, có người sẽ chép miệng: Vậy thì mỗi buổi sáng, ai sẽ nhắc cho mình nhớ Sài Gòn đang nắng hay chợt mưa!

(*) Ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

*

Hoàng Xuân Sơn
NHỮNG BÀI THƠ TẶNG NGƯỜI TUỔI NGỰA

ngựa. mùa huyết hãn

mỗi ngày tôi đo huyết áp
những con số nhảy múa như đêm vũ trường
không có ánh đèn màu
chỉ có màn đen lờ mờ phim ảnh
phổi. và tim
xuống cấp độ nồng ước vọng

tôi không hề biết số nào lên số nào xuống
[như cuộc đời thăng trầm]
thì có sá chi
một khúc rộn ràng binh tướng
cuộc đi về như loạn thạch trận
cát chạy đá bay
mình cứ ù ù
những con số chỉ là nơi dừng chân
cho lần tiếp sức xông pha trận mạc
khi mình biết nâng niu huyết thống
ôi sẽ muôn đời
không bao giờ ngã ngựa

N G Ự A . M Ộ T

Xuống đồi
đứt một dây cương
hỡi ơi bóng ngựa
vô thường tuổi
ưu
sinh tôi
nhằm buổi oán cừu
đau thâm lòng mẹ
giữa cưu mang
đầy
đường nào
xa hút tầm tay
mà trăng quên sáng
một ngày ấu thơ
một ngày
khôn lớn phất phơ
buồn sông trăm nhánh
hoang bờ bụi
chia
sông thiêng nào có hẹn về
trường sa lộng hí não nề
ngựa ơi
tà huy nắng thắt lưng trời
quê hương
nghìn dặm
chiều rơi …
mỏi mòn …
HXS

BI CÂU HÀNH

Hạt Cát chuyển ngữ

Lạc lĩnh đoạn an cương
Câu ảnh hống vô thường
Cừu thời oan thế xuất
Thống thiết mẫu can trường

Hà lộ viễn thủ khoan
Nguyệt vọng thiếu nhật quang
Trưởng thời đinh linh khứ
Sầu ngạn bách phân hoang

Hà ước quy giang phương
Trường sa mã tê thương
Tà huy không bối nhiễu
Nhật vãn thiên lý hương.

*

Khuất Đẩu
BUỒN NHƯ LY RƯỢU CẠN

lu_quynh-_pho_to_by_ng_song_ba-content
Lữ Quỳnh
Photo by Nguyễn Sông Ba

Tôi gặp anh lần đầu ở tuổi ngoài bảy mươi. Anh từ Sài Gòn ra, tôi từ Ninh Hòa tới, trong căn nhà lộng gió của Nguyễn Lệ Uyên, ở Tuy Hòa.

Gặp nhau lần đầu nhưng không bỡ ngỡ. Vì trước đó, chúng tôi đã từng biết nhau qua những trang viết. Mà những trang viết của mỗi người, tuy không nói về mình, nhưng cái “hồn” của người viết vẫn cứ hiện ra: tôi, dữ dội, cay chua, anh thâm trầm, nhân ái.

Trong buổi gặp đó, tuy không uống rượu (vì bệnh), nhưng anh vẫn lấy từ trong túi xắc ra một chai whisky, có lẽ mang từ Mỹ về để mừng cho buổi gặp mặt.

Chúng tôi, uống ít thôi, nhưng nói khá nhiều. Nói đủ thứ chuyện, không đâu vào đâu.

Khoảng 2 giờ tôi xin xuống ga, về Ninh Hòa (vì đã lấy vé khứ hồi). Nhưng các anh bảo về chi vội, để tối cùng đi với Quỳnh và Minh, tôi thấy cũng được, nên ở lại.

Chiều, Nguyên Minh đi thăm sui gia, rồi chúng tôi cùng đến nhà Trần Huiền Ân, ăn Tết muộn.

Ga ngày Tết đông cứng người, tôi định nếu không mua được vé, thì cứ leo đại lên tàu, chịu phạt vậy. Nhưng không ngờ, anh lại lấy được vé cho tôi, mà là ghế ngồi có số đàng hoàng chứ không phải ghế súp như của anh và Nguyên Minh.

Lên tàu, rất may có các cô gái nhường chỗ. Tôi và Minh nói chuyện cùng với tiếng tàu chạy rì rầm. Anh chỉ yên lặng.

Xuống Nha Trang, anh rủ tôi và Minh lên ngồi uống nước trên Book-coffee ở gần ga, đợi tiễn tôi về lại Ninh Hòa.

Có thể nói, suốt một ngày dài, anh nói rất ít. Mà lại nói rất nhỏ nhẹ. Nhẹ đến nỗi có lúc tôi giật mình, tưởng cái bóng của anh nói chứ không phải anh.

Đêm đó tôi tưởng các anh ngủ ở một khách sạn ven biển, rồi sáng dậy sớm ra bãi ngắm mặt trời mọc. Ai ngờ, đi mỏi cẳng chẳng tìm ra khách sạn nào còn phòng. Đành lên ga, quay về Sài Gòn. Mà nghe đâu chỉ đứng chứ không có chỗ ngồi. Mấy ngày sau, lại nghe anh vào viện để giải phẫu gì đó.

Viết đến đây, tôi lại nhớ đến các cụ ngày xưa, chống gậy đi tìm nhau chỉ để uống một chén rượu mùa thu. Anh từ Mỹ, ngồi trên máy bay hơn 20 giờ, rồi lại ngồi xe lửa ngày Tết chật cứng người, đến những mười mấy tiếng nữa, mang theo chai rượu chỉ để nhìn bạn uống. Cái tình của anh còn dài rộng hơn các cụ ngày xưa rất nhiều.

Không phải vì một cái vé tàu Tuy Hòa-Ninh Hòa, mà tôi quý anh. Mà vì cái lo kín đáo của anh, lo vì ở lại với anh, nên tôi có thể không lên được tàu. Một điều nữa, giá như xuống ga Nha Trang, anh và Nguyên Minh kêu taxi đi tìm khách sạn, thì thế nào cũng kiếm được một chỗ qua đêm. Đàng này, anh không nỡ bỏ tôi ở lại ga một mình để chờ chuyến tàu khuya. Cơ sự như thế nên mới ra cái nông nỗi, hai ông bạn già lang thang trong thành phố biển đã bắt đầu say ngủ!

Cái “buổi ban đầu ấy” đọng lại trong tôi rất nhiều. Đương nhiên, anh cao lớn hơn Minh, nhưng trông anh, tôi thấy sao giống Thạch Lam quá. Giống ở đôi mắt to, sâu và buồn. Và nhất là giống những trang viết. Giản dị, nhẹ nhàng nhưng buồn kín đáo.

Ở Thạch Lam, là nỗi buồn ga nhỏ, buồn của nhà mẹ Lê. Ở anh là buồn với “Những cơn mưa mùa đông” xứ Huế, buồn vì mất bạn cũng mồ côi, vì quán hoa giấy chiều nay lãng đãng/ uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không.

Dường như có rất nhiều người đến tưới rượu lên mộ Trịnh Công Sơn, nhưng chỉ là để nhớ một bạn nhậu chứ không phải nhớ tiếng đàn, tiếng hát của Trịnh.

Anh, nhớ bạn, vào quán một mình, kêu một ly rượu đầy và một chiếc ly không. Lặng lẽ ngồi, lặng lẽ uống. Hết ly mình, đến ly bạn. Mà ly bạn chỉ có ngụm nắng tàn.

Cái cảnh một ly mình và một ly không, tôi cho là buồn và thật đẹp. Đẹp vì cái tình bạn sóng sánh trong ly rượu. Đẹp vì chiếc ly không đựng chút nắng tàn.

Nhưng anh không phải là con người của trầm tư, hay làm ra vẻ trầm tư. Anh là con người của công việc, của gia đình vợ con. Không ai dám phê phán anh điều gì.

Nhưng sao anh cứ buồn, không phải cái buồn vạn cổ, cũng không phải cái buồn thời đại, một cõi buồn riêng có vẻ bơ thờ lạc lõng, buồn của một điếu thuốc lá ngậm hoài thấy nhạt.

Giờ đây đã đến lúc chống gậy đi tới nơi phải tới, biết đâu , tôi hay anh, sẽ là người đựng chút nắng tàn trong chiếc ly không.

Dù, chỉ có vậy, cũng xin uống cạn.

22/7/2014

In nghiêng: thơ Lữ Quỳnh

*

Lữ Quỳnh
Duyên vẽ 30-3-2017

duyên
Tặng anh Lữ Quỳnh & chị Kim Nhung.

Qua điện thư anh gửi
“22 tháng 5, 2015.
lần đầu gặp gỡ
T. D. đến nhà mình, rồi qua cafe Starbucks
nhớ không duyên?”.

lần đầu. gặp gỡ
anh chị hiền lành, đẹp như thơ
nhớ ngày nào. bên biển Quy Nhơn
dưới chân Chúa. trong giáo đường im lắng
anh đã cầm tay, nhìn sâu vào mắt chị
xin cùng nhau đi suốt cuộc đời.*
giờ đây trong không gian mới
bên này biển Thái Bình Dương
có căn nhà ấm cúng. ánh lên hạnh phúc
gặp Bê-la, cô con gái rất xinh
cháu Gia Hiển. yêu ông quá
đợi ông về từ Starbuks. trách ông
“ông ơi, ông đi lâu vậy? ”
làm sao tôi quên được
hình ảnh hai ông cháu
ra tận xe, vẫy tay chào
tôi long lanh nước mắt…

gặp lần đầu, kỷ niệm nhẹ như tơ
ai cũng cười vui, lòng lễ hội
tưởng chừng như đã gặp tự bao giờ…
anh tặng quyển “hội hè miên man”**
dáng cao lớn, sao anh mong manh quá
kèm nụ cười, rất trẻ thơ
ánh mắt dịu dàng như nhắn nhủ
bạn nhau rồi, mình sẽ nhiều kỷ niệm vui…

sao không nhớ, lần đầu gặp gỡ
tay cầm bó hoa, cắt trong vườn cô em nhỏ
vài quả chanh thơm…
mầu vàng, Đinh Cường yêu thích
ai cũng đơm trên môi nụ cười rạng rỡ
anh đón vào nhà. bàn ăn lịch sự đã sẵn sàng
khói nhẹ, tỏa hương thơm
thức ăn ngon, chị ân cần chăm sóc
sau bữa ăn, rủ nhau qua Starbucks
nhắc chuyện xưa…
ĐC, TCS, bạn cũ, mới. thân. quen.
về lại nhà
chị nhẹ buồn. cho biết
đêm qua, mẹ chị mới qua đời.
cụ đi rất nhẹ nhàng…
cháu con cận kề… ấm áp
niệm kinh giã từ
Phật tử thuần thành đất thần kinh
nay quy y nước Phật, dưới ánh đạo vàng.
cảm động cùng thương mến
cơ hội quý anh chị đã dành cho, lần gặp gỡ này
nắm tay nhau. không biết nói năng chi…

sao không nhớ. lần đầu. gặp gỡ
anh vừa xuất viện hơn một tuần cho
trái tim bắt đầu… hờn dỗi
qua những đoạn ghi của anh, của ĐC
“té trên đồi mây”
“sao lâu rồi không thấy Quỳnh viết gì.”
và anh ĐC giục
T.D. về San Jose, nhớ thăm LQ…

trân trọng mối thâm giao đó…
mình hẹn nhau. hồi hộp đợi chờ…
ngày gặp gỡ…
như người anh quý, ai mà không mong có
Lữ Quỳnh hiền, tài giỏi, khiêm nhường. rất thiện tâm
bạn anh. mọi người cùng yêu mến
tùng duyên. nào có khác gì đâu…

duyên

——

*nhớ lại một đoản văn về chuyện tình anh chị, ngày sống và làm việc tại Quy Nhơn.

** A Moveable Feast, written by Hemingway. nhà văn Phan Triều Hải, con trai lớn của anh chị Lữ Quỳnh dịch thuật, xuất bản tại Việt Nam, 2009.

*
Trần Thị Nguyệt Mai
NHỮNG TÌNH THÂN


Ở Caffe Trieste 2017
Từ trái: Queen. Hải Phương
Nguyệt Mai. Quế Hương. Lữ Quỳnh

Tôi hân hạnh quen với anh qua anh Đinh Cường. Một hôm anh DC nói anh gửi tặng tôi tập thơ “Những Giấc Mơ Tôi” mà anh mới xuất bản. Nhận sách, ngạc nhiên và lòng vui khôn tả, tôi liền viết một bài cảm nhận khi đọc tập thơ này. Anh vui lắm và chính anh đã gửi cho đi trên trang Văn Chương Việt.

Nhưng thật ra, tôi đã “biết” anh trước đó qua văn chương vì đã từng giới thiệu những bút ký khi sang du lịch ở Anh và Pháp của anh trên trang Phay Van. Các bạn rất thích khi đọc những bài viết này và đã comment thật rôm rả:
https://123hoang.wordpress.com/2011/11/05/n%c6%a1i-khong-con-ti%e1%ba%bfng-la-x%e1%bb%a9-c%e1%bb%a7a-s%c6%b0%c6%a1ng-mu/#more-6786
https://123hoang.wordpress.com/2011/10/24/kho%e1%ba%a3nh-kh%e1%ba%afc-mua-thu-paris/#more-6680

Rồi một ngày tôi có dịp đến San Jose thăm anh chị. Anh chị rất ân cần, niềm nở đón tiếp tôi như một người em nhỏ phương xa… Gặp lại nhau trong đám tang anh Đinh Cường, cả hai anh em đều thật buồn…

Và anh đã giúp tôi “sum họp” với Yên, Lam, là những người bạn quen nhau từ những năm 70s. Với Yên, Lam, anh là anh Ngô, bạn của anh Hồ Thanh Ngạn từ thời Ý Thức.

Cám ơn anh Lữ Quỳnh cùng tất cả những tình thân quý anh đã dành cho em. Chúc mừng sinh nhật anh hôm nay, em kính chúc anh luôn được sức khỏe, an lạc.

12-12-2018

*


Phác thảo chân dung Lữ Quỳnh – đinhcường

Nguyễn thị Khánh Minh
LỮ QUỲNH. THƠ. CON MẮT CỦA GIẤC MƠ

Một buổi sáng tháng 7 của mùa hè này, tôi được gặp gỡ ba người anh trong cõi văn chương.

Một đến từ Virgina, nơi quanh năm rét mướt, nên hơi cọ đầy lửa, lửa xanh khơi từ trái tim phết lên tranh sắc mầu của hy vọng, họa sĩ Đinh Cường.

Một đến từ miền bắc Calif. miền đất nở ra một thung lũng hoa vàng thơ mộng, nên thi sĩ đi trong thời gian của mình những bước thao thức của giấc mơ, người thơ Lữ Quỳnh.

Một, ở ngay đây, lần đầu tôi được diện kiến dù từ lâu đã văn kỳ thanh, nhà thơ Thành Tôn, nhớ nhất câu thơ của anh, buổi sáng soi gương và đội mũ/ lòng đã hồ nghi khuôn mặt quen. Đôi khi soi gương tôi cũng có cái nhìn ngờ ngợ mình như thế.

Nhưng sáng nay thì khuôn mặt mùa hè thấy được niềm vui rất rỡ ràng từ tình thân. Tôi đang thời gian dưỡng thương, cũng hơi e ngại khi phải xuất hiện với một dung nhan sau cuộc mổ và đi đứng với cái walker, nhưng kinh nghiệm cũng cho tôi biết rằng, những phút giây quý, có thể sẽ không trở lại trong đời, lần nữa. Nên sau đó tôi có được tự nhiên chuyện trò, nhìn anh Đinh Cường ngồi xem world cup với nhà tôi với phong thái của các ông say mê bóng đá. Thật thú vị khi tôi biết một hình ảnh khác của họa sĩ lúc không cầm cây cọ. Còn anh Lữ Quỳnh (LQ) thì đã vội vã đi công việc cùng anh Thành Tôn.

Mà lạ ghê, lần nào gặp anh Lữ Quỳnh cũng chớp nhoáng như thế. Nhớ lại, lần đầu tiên, là nghe anh nói, “hôm ở Viện Y Dược Học Dân Tộc, nghe anh Trương Thìn gọi khánh minh, thì biết đó là KM.” Vậy cũng như không, coi như chưa quen nhau. Lần thứ hai nơi đám cưới con anh Lữ Kiều, tôi ngồi với Ngọc Sương, Quý Loan và Trần Lê Sơn Ý, cô nhà thơ trẻ măng, thơ rất hay, được anh Lữ Kiều vô cùng hâm mộ, anh LQ ngồi đối diện tôi, đó là lần được nói đôi ba câu với anh. Lần thứ ba, gặp anh ở tòa soạn Việt Báo, Little Saigon, cũng vội vã, anh em chụp với nhau tấm hình rồi chia tay, vì rằng tôi không lái xe, nên có người đến đón thì phải đi về. Lần này, cũng như mây xẹt ngang, rồi đi.

Trong nhóm Ý Thức, chỉ có anh Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lê Ký Thương là tôi được gặp và nói chuyện nhiều, còn anh LQ thì chỉ, như thế. Những nhân vật này luôn cho tôi cái nhìn rất quý về một thế hệ của “một lứa bên trời lận đận.” Thế hệ được thời gian trao tặng rất nhiều và cũng lấy đi của họ không ít, có khi keo kiệt đòi trả lãi. Tặng phẩm đẹp nhất là họ có được thời gian để sống cho giấc mơ, và cũng nghiệt thay đó cũng là điều đầu tiên bị tước đoạt. Cái chông chênh giữa được và mất ấy đã để lại trong thơ văn tranh của họ những nét đặc biệt, vừa thơ mộng vừa bi thương.

Thơ mộng ở chỗ họ theo đuổi rất quyết liệt niềm đam mê văn chương nghệ thuật, trong một không gian vốn vô cùng trắc trở của cuộc sống còn, lại lọt vào quãng thời gian khắc nghiệt của lịch sử.

Chính vì vậy mà bi thương. Trong kề cận sinh tử, những chàng nghệ sĩ có tâm hồn như mây ấy đã nương tựa vào sự gắn bó của tình bạn, có phải vì ý thức được sẽ có những ra đi bất ngờ mà họ hết mình hơn trong những lúc còn bên nhau với ly rượu đầy vơi? Họ phổ những nét đẹp đau thương ấy vào câu thơ lời văn tranh vẽ.

Và họ đã khắc họa được một dòng văn chương nghệ thuật thơ-mộng-bi-thương.

Cho nên khi đọc họ tôi luôn thấy lòng mềm theo những lãng mạn kiêu bạt cùng ngậm ngùi cho mất mát mà họ chỉ đủ sức buồn trong phẫn nộ, hay đôi khi là tiếng cười, vì tận cùng của nỗi đau không phải là hạt lệ. Tôi thấy rõ hơn những điều mà tôi đã không thấy hết vào lúc điêu linh ấy. Cái thời mà Lữ Quỳnh đã buông câu cười nhạt “Cánh vừa mọc nhưng thiên đường đã mất.” Ôi! Như thi sĩ Du Tử Lê ở lời tựa trong thi phẩm Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ (SNCMNKCT): “hôm nay, đọc những trang văn của Lữ Quỳnh tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu/ xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước.”

Trong thơ LQ, cái ánh sáng pha lê, là tình bạn “… tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu.” (Du Tử Lê)

Kể với quê hương
Chuyện núi rừng – máu xương
Và rất nhiều anh em đã chết
… Mỗi lần ước ao cầu nguyện
Chỉ cần giơ hai cánh tay lên
Mà nói với Trời
Niềm vui sẽ nở ra trên nụ cười trắng dã
Nhưng anh biết đã muộn rồi
Khi đất là da thịt anh em
Khi mùa xuân bắt đầu hồng lên sắt máu
Nên em ơi anh phải cúi đầu
Nhận số phận quê hương
Ánh vinh quang trong mắt chúng ta
Những người còn sống
Cũng là của bùn đất các anh
Những người đã chết

(Nỗi Nhớ Từ Cao Nguyên – SNCMNKCT)

Anh hãy nằm yên đó
Chờ lũ bạn thân này
Chiến trường đang lửa đỏ
Máu còn xanh cho cây

(Sân Bay Buổi Chiều – SNCMNKCT)

Hôm nay thì tôi biết thêm cái muôn trùng khác của tiếng khóc, cái thăm thẳm của hạt lệ vành nôi. Đường địa cầu thấp thoáng vành nôi/ Vạn dặm không dài hơn tiếng khóc… (Ðường Vạn Dặm)

Và cái tràn đầy của chiếc ly không,

Đường thuốc lá chiều nay vắng bạn
Một ly mình. Và một ly không
Điếu thuốc lá ngậm hoài thấy nhạt
Khói lang thang khói cũng ngập ngừng
… Quán hoa giấy chiều nay lãng đãng
Uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không

(Chiều Tân Ðịnh – SNCMNKCT)

Tuổi trẻ không quê hương
Chúng tôi nghèo đủ thứ
Năm tháng thèm quê hương
Như khát lời ru ngọt

(Tuổi Ðời – SNCMNKCT)

Nghèo đủ thứ nên nhà thơ lãng mạn của chúng ta giàu những giấc mơ, một mầu sắc khác trong thơ Lữ Quỳnh.

trắng như những giấc mơ
có bạn bè khuất núi kéo nhau về
(Thêm Một Năm Xa Tiếng Nói Cười – Những Giấc Mơ Tôi)

lòng ta quanh năm chỉ một mùa vàng lạnh
giấu bạn bè trong những giấc mơ
(Một Lần Rồi Xóa Tan – NGMT)

… giấu bạn bè trong những giấc mơ… Đẹp và cảm động quá. Và, để có được giấc mơ, chắc cũng không ít lần, nơi ấy, nhà thơ phải chịu giá rất đắt. Cũng cam. Đêm nào dài hơn đêm nằm canh giấc mơ?

chiều về nặng trĩu vai
vác cây đời thánh giá
đêm nằm canh giấc mơ
sợ những điều giả trá

(Tiếng Chim Lạ Ở Trại Tù Cồn Tiên – NGMT)

Cũng vì, bất cứ giá nào cũng không để tắt ánh sáng của giấc mơ, nên trái tim dẫu có héo hon, cũng nhờ ánh lung linh ấy cấy lại niềm khát khao cuộc sống, và nhà thơ đã thu gặt được mùa màng đầy mùa thu chín trái.

những ngọn nến thắp bằng ánh sao
soi trái tim khô
đang nẩy mầm bất tử
(Giấc Mơ – NGMT)

Lúc mở mắt gặp mùa thu chín trái
Nên lời anh vi vút tiếng chim rừng
Nên hồn nhiên như những lứa nam trân
Và hơi thở thơm mùi hoang dạ thảo
(Bài Tình Trăng Sao – SNCMNKCT)

Và lấp lánh trong ánh sáng ấy là con mắt của giấc mơ. Vì, trong những giờ phút đẹp, thực của cuộc sống LQ cũng dùng con mắt giấc mơ để hưởng thụ nó, để cảm xúc vui buồn cùng nó. Như một nghệ thuật (hay kinh nghiệm?) để trộn lẫn giữa thực và phi thực. Cái phi thực là áo khoác của thơ mộng lên tất cả niềm vui lẫn đau buồn. Tôi có được cảm giác ấy từ bài thơ này,

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp
tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối
quạnh hiu.

(Giấc Mơ – NGMT)

Tôi nghĩ, anh quý thương bạn bè, và anh đã được hạnh phúc sống cùng họ, rất thực, những phút giây đẹp đẽ, đẹp đến nỗi anh cho nó là giấc mơ. Mơ trong lúc sống thực nhé. Rồi khi còn một mình anh lại sống thêm một lần nữa thời khắc ấy, bằng giấc mơ. Trời ạ, người thơ sao biết sống quá vậy! Bởi vì lúc tỉnh hay mơ anh đều mơ cả…

Cho nên, cái lúc tỉnh ra thấy quạnh hiu kia, tôi nghĩ, chắc nó chỉ xảy ra ở vào giấc ngủ cuối cùng, cho đến khi anh nhắm con mắt của giấc mơ.

Nhà thơ Lữ Quỳnh giải thích hiện thực cuộc sống bằng giấc mơ. Đã hóa giải buồn đau của hợp tan bằng giấc mơ. Con mắt của giấc mơ ấy là Mật Ngôn, mà tôi thấy trong tranh họa sĩ Đinh Cường, con mắt cá không bao giờ ngủ. Bởi tỉnh thức, và mơ.

Tôi muốn chấm hết bài bằng một ý vui. Đọc thơ LQ tôi ngộ ra một điều rất giản dị,

Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa
Nhưng lòng luôn sẵn lửa để cho em
(Chiều Mưa Trên Thành Phố Nhỏ – SNCMNKCT)

Ra người ta không cầm tay mình chỉ vì người ta nghĩ không còn trẻ nữa nên ngượng, chứ không phải vì giảm lòng yêu thương. Mà chuyện cầm tay chỉ để dành cho người trẻ thôi ư, lạ thiệt, thế nào thì được xem trẻ, bị coi già? Thưa Nhà Thơ? Vậy thì, bây giờ tôi sẽ chủ động cầm tay người thương trước, để chứng tỏ mình còn trẻ, biết đâu sẽ được thấy lửa để cho em, và để người bước qua nỗi tự coi mình già, như nhà thơ Lữ Quỳnh kia. Có đồng ý với tôi không? Và nếu vậy thì phải cảm ơn Nhà Thơ Lữ Quỳnh.

Santa Ana, Tháng 7.2014

*

Lữ Kiều
TỰ TÌNH

Sống là chia sẻ.

Viết là một cách chia sẻ. Đâu chỉ là chia sẻ chữ nghĩa, trong đó còn có quả tim tội nghiệp, cái đầu thao thức, những cơn mê sảng của lý trí, những tuyệt vọng khốc liệt của từng đêm thâu… Tưởng như có người chia với mình những điều buồn bã ấy, cho đến khi hiểu ra, cuộc sống vẫn hồn nhiên trôi đi, ta cũng trôi đi. Con đường tưởng là đi chung, đến lúc nào đó, dừng lại, chỉ còn thấy ta lẻ loi một mình.

Một mình với chiếc bóng. Chiếc bóng tưởng như thật, nhưng cũng có lúc không thật nữa.

Nhớ Lữ Quỳnh. Tôi đã yêu bạn ấy biết bao. Có một ngày rất trẻ, bạn nằm bệnh viện, tôi đến, ngồi bên bạn, nắm tay bạn. Thuở đó, bạn là một đứa trẻ bất hạnh. Tôi truyền tình cảm của tôi cho bạn qua cái nắm tay hồn nhiên tuổi 13. Đó là kinh nghiệm chia sẻ đầu tiên của đời tôi.

Nửa thế kỷ sau, một ngày tháng 8 năm 2001, đặt chân lên đất Mỹ, bạn đón tôi ở phi trường, tôi nắm tay bạn. 50 năm, vẫn một hơi ấm từ bàn tay thuở đó, dù đời đã khác.

Bạn lái xe đưa tôi quanh thành phố, nơi bạn định cư.

Chúng tôi đang ở xa Việt Nam nửa quả địa cầu. Sự cách xa làm tôi xúc động. Thành phố nằm trong thung lũng bao quanh là những ngọn đồi cỏ vàng. Những con đường hoa lá. Tôi lặng đi khi nhìn bạn ngồi trước tay lái: những vết nhăn trên khuôn mặt bạn, những sợi tóc bạc không giấu giếm. Phải rồi, chúng tôi không còn trẻ, quỹ thời gian của đời người đang hồi vét cạn, như cuốn vở học trò chỉ còn vài trang cuối. Chỉ vài trang cuối để ghi chép cái bao la của đời này. Đã đến hồi chung cuộc, nhưng ta không có quyền thay cuốn vở mới.

Ôi, văn chương! Ta viết gì cho những trang cuối cùng này?

Nói cho cùng, ta đã viết gì, đã ghi chép gì trên cuốn vở đời ta?

Ngày đầu tiên, đặt chân lên đất Mỹ, ý tưởng ấy làm tôi se lòng.

Tôi nhớ đến Ngy Hữu. Nhà của Hữu ở Vân Dương. Bạn chăn trâu trên cánh đồng thật rộng, tôi và Lữ Quỳnh ngồi trên những thửa ruộng khô để chờ bạn dắt trâu về. Trên cánh đồng mạ ấy, chúng tôi bàn chuyện văn chương.

Ngy Hữu chết đã 2 năm. Bạn không ngồi giữa chúng tôi – thuở đó Ngy Hữu luôn thích ngồi giữa tôi và Quỳnh để sôi nổi chuyện văn thơ. Tập báo viết tay đầu tiên hình thành trong tình bằng hữu ấy.
Nhưng rồi thời gian qua, sự xa cách về không gian làm chúng tôi xa nhau. Hình như chúng tôi đòi hỏi ở nhau quá nhiều, nên có lúc thất vọng. Giờ, nhớ lại, quả thật chúng tôi có bất công với nhau. Đáng ra, phải chấp nhận Bạn-như-Bạn-là. Chứ không phải Bạn-như-Bạn-phải-là.

Giờ đây. Tôi hiểu ra trong nhiều loại bất công của cuộc đời, thì bất công trong tình bạn là đáng yêu hơn cả. Tôi càng thấm thía điều đó, khi tôi đến thăm mộ Ngy Hữu ở Chà Bang, tỉnh Ninh Thuận. Mộ Hữu nằm dưới một ngọn núi mà khi tôi đến, những cành hoa mua màu tím nở ngát làm cho núi trở thành một ngọn núi tím.

Tôi và Nguyên Minh thắp một nén hương, nhìn tấm hình bạn trên bia mộ, quạnh quẽ vô cùng. Chỉ có những con trâu gặm cỏ quanh mộ Bạn. Những con trâu lui tới nơi bạn an giấc vĩnh viễn, giống như những con trâu ở Vân Dương tuổi thơ bạn chăn dắt. Tôi chảy nước mắt.

Không phải vì Bạn, mà vì những con trâu trong tuổi thơ chúng ta.

Giờ đây, chỉ còn tôi và Lữ Quỳnh, chia với nhau tâm cảnh của thành phố hoa vàng. Có thể, không bao giờ chúng tôi nghĩ sẽ ngồi cạnh nhau ở xứ người, xa hết những bằng hữu tuổi thơ. Bạn vừa lái xe, vừa kể cho tôi nghe về những ngày tháng ở quê người. Về góc phố chờ xe buýt đến sở. Về những buổi mai ra đi rất sớm, buổi chiều ra về rất trễ. Về bữa ăn Việt Nam người vợ mang theo, để buổi trưa hai vợ chồng ngồi ăn với nhau vội vã. Về những sắt se nhớ những người thân ở lại. Bạn cũng nói về sự an toàn trong đời sống mới, sự hội nhập cuối cùng phải có. Để tồn tại. Chứ không phải để sống.

– Còn văn chương?

– Mình nghĩ mình sẽ viết được.

Vậy là hạnh phúc rồi. Tôi đến thành phố này lần thứ hai. Những trải nghiệm trước nơi chốn đều mỗi khác. Á Châu. Âu Châu. Mỹ Châu. Điều quan trọng đối với tôi ở mỗi nơi chốn là tìm thấy những đôi mắt thân yêu. Nếu không, thì nơi đến chỉ là chốn lưu đầy. Tôi nói điều đó với Lữ Quỳnh, và bạn tôi trả lời, giọng nhỏ đi.

– Mình cũng tìm thấy một đôi mắt.

Nhìn nét mặt của bạn, nghe giọng nói của Bạn, tôi hiểu rằng quả thật ở chốn này, bạn cũng tìm thấy một đôi mắt. Dù là đôi mắt mong manh. Đôi mắt muộn màng. Như thuở trước, chúng tôi rất nhạy cảm trước tình cảm của nhau.

Còn đôi mắt của văn chương?

Phải, còn đôi mắt của văn chương? Đôi mắt của ý thức? Của mê thức? Của vô thức? Đôi mắt số phận của mỗi người?

Tôi nhớ lại. Động lực nào khiến cho chúng tôi ngày ấy ngồi lại bên nhau để cùng bước đi trên con đường chữ nghĩa? Tưởng là chơi thôi. Đâu ngờ đã vận vào đời mình cái mê hoặc của văn chương trở nên nghiệp dĩ, mang theo suốt cuộc sống thăng trầm cho đến hôm nay.

Cho đến những ngày cuối năm này, bàng hoàng thấy lòng mình buồn vô hạn. Một nỗi buồn lạ lùng mà các năm trước, tôi chỉ nghĩ tới chứ không nhận ra. Đó là sự tỉnh thức cay đắng của cơn mộng văn chương.

Phải, tôi đã làm gì đời tôi?

Thì cũng sống như mọi người, cũng như cỏ cây chim cá, cũng vui buồn theo trời đất gió mưa, cũng ngũ uẩn, cũng thất tình, thế nhưng, như mang căn bệnh tâm thần phân liệt trầm kha, tôi còn nghe một tiếng nói, tiếng nói thứ hai ngày đêm vang bên tai tôi.

Nói gì vậy?

Đó là vấn đề.

Để bước tới. Để dừng lại. Hay để nằm xuống.

Cuối năm. Những thao thức kia chợt không rời. Ta đã làm chi đời ta. Không làm gì cả. Chỉ cái Ngã nhỏ nhoi làm vướng bận con đường giải thoát.

Nhớ lần cùng một người bạn đến khu rừng cây hóa đá. Đó là một buổi chiều, mặt trời dần tắt, đặt chân vào khu rừng già có những thân cây ngã dài trong hố sâu, sờ lên thân cây, đúng là đá. Cây đã sống trên ngàn tuổi. Và để hóa thành đá, phải có thời gian trên ba triệu năm. Vậy thì cái cây đang nằm trước mặt tôi có tuổi trên ba triệu năm: so với trăm năm của đời sống, thì kiếp người quá ngắn ngủi. Quá ngắn, vậy mà sao nhiều chuyện quá. Lịch sử con người được làm bằng chiến tranh chứ không phải bằng tình yêu thương. Và, vì vậy có phải văn chương là giấc mộng đem con người gần lại với nhau, tử tế với nhau…?

(trích tự tình: gởi nhóm Ý Thức)