Công Cha Như Núi Thái Sơn

Tùy bút của Lê Ký Thương

Nguồn: Internet

1

Hôm trước ngày chính thức thi vào lớp Đệ Thất, tôi phải tự đón xe đò xuống trường Trung học Võ Tánh Nha Trang coi bản niêm yết danh sách thí sinh có tên mình hay không, nếu chẳng may sót tên thì còn kịp thời gian khiếu nại để điều chỉnh. Yên tâm có tên mình trên bảng trùng với ngày tháng năm sinh, tôi và một vài đứa bạn rủ nhau xuống biển tắm, cốt thư giãn sảng khoái sau những ngày tháng ôn thi mệt nhọc. Trưa về, tôi bắt đầu cảm thấy nóng ran cả người và nhức đầu. Cha mẹ tôi đều biết tôi thuộc diện “khó nuôi” nên thường nhức đầu sổ mũi. Suốt hai niên khóa lớp Nhì và lớp Nhứt, trọ học ở quê ngoại, tôi không hề đau ốm gì, nhưng sống với mẹ cha thì gặp không chuyện này cũng chuyện khác. Vì thế, vừa giáp ba tuổi, cha mẹ tôi làm lễ “ký” bán tôi cho ông thầy pháp trong xóm. Tôi được đeo vòng sắt nơi cổ chân và bùa hộ mệnh nơi cổ để trừ tà ma suốt chín năm mới làm lễ cúng tạ quỷ thần và tháo ra. Đó cũng là lý do nhiều người thắc mắc tại sao tên tôi không lót chữ “tấn” cho nó nặng mà lại lót chữ “ký” nhẹ hều!

Tôi bỏ ăn trưa, buổi chiều mẹ tôi nấu bánh canh cá thu cho tôi ăn. Mỗi lần tôi bị cảm, mẹ tôi luôn luôn nấu món này và bỏ tiêu hành thiệt cay nồng vì bà nghĩ rằng đó là bài thuốc giải cảm. Bánh canh nóng, tôi vừa đưa lên miệng thổi, thì nghe mùi cá thu tanh muốn lợm giọng. Để làm vui lòng mẹ, tôi cố húp miếng bánh canh, nhưng chưa qua khỏi thực quản thì nôn thốc nôn tháo. Đến khi nôn tới mật xanh mật vàng và mồ hôi vã ra như tắm thì tôi rơi và tình trạng hôn mê…

Trong lúc này, cha tôi đi làm xa, mẹ tôi vội chạy xuống nhà nội tôi báo cho biết bịnh tình của tôi. Nội tôi ở với gia đình cô tôi, chung cuộc đất chỉ cách nhau một hàng rào. Nội tưởng tôi bị ma bắt hoặc quỷ ám (!).

(Ở xóm có cây da cổ thụ sừng sững bên lề đường Quốc lộ 1 A, cạnh cây da là quán bán bánh ướt, bánh xèo, rượu đế và bánh kẹo…, trước mặt quán là giếng nước, vì vậy người ta đặt địa danh là xóm Cây-Da-Quán-Giếng. Nơi đây nổi tiếng nhiều ma, nhất là trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp. Mẹ tôi kể mỗi lần thực dân Pháp xử bắn tù binh Việt Minh đều áp giải từ trại giam Cầu Quay – Phú Vinh, đến phần đất của nội tôi, đối diện Cây-Da-Quán-Giếng là cho ăn đạn… Vì thế, những oan hồn chưa siêu thoát, còn trú ngụ nơi cây da).

Trẻ con trong xóm bất cứ bệnh gì là người lớn đều trầu rượu lên chùa TT trên Bình Cang, cách nhà non nửa cây số, rước thầy xuống cúng. Thầy trụ trì theo phái Cổ Sơn môn, có vợ con đàng hoàng. Tôi đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, mỗi lần tỉnh tôi nghe lờ mờ tiếng mõ đặt ngay trên bụng tôi hòa lẫn tiếng tụng khi trầm khi bổng. Và những lúc lên cơn đau thắt ruột thắt gan tôi nghe loáng thoáng tiếng của nội tôi: con ma sắp xuất ra rồi! Nhưng Thầy cứ tụng mãi và cho đến khi Thầy thấm mệt, con ma cứng đầu vẫn chưa chịu xuất hồn ra khỏi thân xác tôi! Thầy bèn sai người nhà đem tôi lên chùa để đút đầu tôi vô đại hồng chung coi thử con ma này ngang bướng chừng nào. Tôi ngồi lọt thỏm trong đại hồng chung, nghe tiếng đại hồng chung vang lên xé tai nhức óc, chịu không nổi, tôi nói sảng, thốt lời thất lễ với Thầy. Thầy lại càng gióng chuông liên hồi và răn đe con ma khôn hồn thì hãy xuất ra khỏi thân xác tôi. Cuối cùng, tôi bất tỉnh vì sự tra tấn đó, ngất lịm đi lúc nào không biết.

Sáng hôm sau, cha tôi đi làm đêm về sớm. Cha hay tin tôi “bị” gởi lên chùa suốt đêm, bèn tức tốc lên chùa giành giựt lấy mạng sống của tôi không phải từ tay ma quỷ mà từ tay ông thầy chùa. Người lầm lì không nói một lời trước sự ngạc nhiên của vợ con ông thầy, nhưng nội và mẹ tôi biết tính của cha hễ giận ai thì “cạy” miệng không ra lời. Cha bồng tôi về nhà rồi vội đạp xe lên Cây Dầu đôi, cách nhà ba cây số rước thầy Tây y tới tận nhà điều trị cho tôi. Thầy Tây y là người Bắc di cư, nổi tiếng chữa bệnh “mát tay” trong vùng, nhưng Thầy không nhận mình là bác sĩ, chỉ nhận mình là thầy thuốc. Thầy chẩn đoán tôi bị cảm thương hàn. Sau khi nghe Thầy chẩn đoán bịnh tình của tôi, mẹ tôi buộc miệng nói “Mô Phật”! Tôi thầm đoán chiều hôm qua, nếu tôi chỉ cần nuốt vô bụng một cọng bánh canh thì sự thể không biết đâu mà lường, vì theo dân gian quan niệm người bị thương hàn bao tử mỏng như tờ giấy, nên khi ăn vô dễ rách!

Sau hai ngày tôi ngã bịnh thì đến lượt mẹ và hai đứa em tôi. Cả nhà gặp năm xui tháng hạn! Mỗi lần gia đình tôi có chuyện gì cũng đều nhờ bên ngoại. Hay tin chẳng lành, ngoại và cả nhà cậu dì tôi xuống thăm. Thấy cha tôi vừa đi làm vừa chăm nom vợ con bịnh, cầm lòng không đậu, đành bàn với nhau mỗi người nhận đem về nhà nuôi một người. Cha cám ơn lòng tốt bên ngoại và không nhận lời.

Tôi nằm bịnh ba tuần ròng, tuần đầu thầy khám bịnh chích thuốc ngày hai lần, hai tuần sau ngày một lần, chỉ được uống nước cam, nước cơm và sữa. Hết tuần thứ ba, tôi bắt đầu nhón bước ra khỏi giường, nhưng đôi chân còn yếu, như thể đôi cánh của chú chim non muốn bay lên nhìn bầu trời tự do ngoài kia mà không thể nào được. Cha đỡ tôi đứng dậy và dìu tôi ra ngồi trước hiên nhà. Tôi được nghe lại tiếng chim sẻ hót líu lo mừng tia nắng mới trong vườn cau, cảm thấy vui sướng như vừa nhận được món quà trời ban. Liền sau đó, cha mời thầy thuốc Bắc ở Phú Vinh lên nhà bắt mạch và hốt thuốc bồi dưỡng cho tôi mau bình phục. Uống ba thang đầu, tôi bị bón, đi cầu không được, quặn ruột và hết sức khó chịu. Thầy bày cha dùng ống đu đủ và muối hầm thổi vô hậu môn của tôi. Kết quả hiệu nghiệm tức thời, tôi nhẹ nhõm cả người. Uống thuốc Bắc được mười thang thì tôi cảm thấy nặng cả tứ chi, đi đứng khó khăn, và khuôn mặt bị sưng lên một cách bất thường. Tôi nói cho cha biết. Cha đoán có lẽ tôi bị sỉnh (phù nề). Ngày hôm sau, cha mời thầy lên tận nhà bắt mạch lại cho tôi và hỏi hà cớ gì mà tôi bị sỉnh. Cha nghi thầy nuôi bịnh và “bắt đền” thầy. Thầy đổi thuốc và hứa uống hết năm thang sẽ khỏi. Tôi còn nhớ như in mỗi lần cha bưng chén thuốc trị sỉnh tới giường là tôi cảm thấy hãi hùng. Cha lột sẵn viên kẹo chanh và chén thuốc, rồi người đỡ tôi ngồi dậy, từ tốn khích lệ tôi nín thở uống một hơi cho hết chén thuốc. Mùi thuốc tanh và đắng mùi vỏ bưởi không thể tả. Tôi phải uống ba bốn hơi mới hết rồi ngậm liền viên kẹo cho tan mùi thuốc nếu không thì nôn ra hết. Mỗi khi nhớ tới chuyện này, tôi càng nhớ câu ca dao “còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết gót con đen sì”. Chính cha là người “nâng bước chân son” của con từ tấm bé.

Tôi là người ngã bịnh trước mẹ và hai em nhưng bình phục sau cùng. Khi tôi ăn uống bình thường trở lại, ngoại ngỏ ý với cha mẹ tôi đem tôi về nuôi. Cha mẹ tôi đồng thuận liền, vì nghĩ cái số của tôi là phải sống xa gia đình. Tôi mở cờ trong bụng. Sống quê ngoại thì tha hồ bay nhảy, nhứt là trúng dịp nghỉ hè. Rồi thời gian hè cũng qua mau, tôi phải về lại gia đình, chuẩn đi học lớp tiếp liên để sang năm thi lại Đệ Thất trường công lập Võ Tánh.

 

2

Tôi được nhận vào học lớp tiếp liên ở Trường tiểu học tư thục Bình Cang, nhờ cha quen với ông Cậu ở xóm trên – người đại diện tín đồ Công giáo họ Bình Cang. Lớp này là một trong những lớp luyện thi vào đệ thất nổi tiếng trong vùng. Tỉ lệ hàng năm học sinh đậu 90 phần trăm trở lên, có năm đậu trăm phần trăm. Vì muốn giữ uy tín của lớp, nhà trường phải coi trước học bạ của từng học sinh, trò nào kém quá thì trường không nhận. Trước ngày khai giảng, cha dắt tôi tới trường với mái đầu… rụng hết tóc vì vừa trải qua cơn bạo bệnh. Thêm nữa, thân hình tôi quá mỏng manh, gió thổi cũng bay – đây là lời nhận xét của dì phước phụ trách lớp tiếp liên. Nhưng khi dì coi học bạ của tôi, thì dì gật đầu đồng ý.

Tôi và một số ít học sinh trong trường là người ngoại đạo, nhưng phải tuân theo chương trình giáo dục của trường. Mỗi buổi sáng, sau tiếng kẻng đánh vào lớp là cả lớp quỳ lên băng ghế đọc Kinh Kính Mừng, ai không thuộc thì ê a theo riết cũng phải thuộc. Đọc kinh xong học nửa tiết giáo lý rồi sau đó học nửa tiết về Phép lịch sự và xã giao. Kế đó mới bắt đầu luyện toán và quốc văn là hai môn chính, cả tuần chỉ có hai tiết học thường thức. Hàng ngày đều làm toán chạy trong nửa tiếng để giúp học sinh tính toán cho nhanh, ai nộp bài trước và đúng thì được điểm 10…

Lớp nằm trên đường đi tắt qua bến đò Bình Cang. Một hôm, giữa buổi học bỗng xuất hiện một bà cụ quê đứng ngay cửa lớp nói vọng vô: Có thằng Cu ở đây không? Hồi tảng sáng nó đi học bụng đói, tui đi chợ dìa, sẵn mua cho nó cái bánh tráng nướng. Ra lấy mà ăn cháu! Tôi ngồi cạnh “thằng Cu” ở giữa lớp và thấy nó ngồi thụp xuống ngượng ngùng giấu mặt. Bà cụ dáo dác tìm thằng cháu không ra, quày quả bỏ đi. Tôi nghĩ nếu gặp tình cảnh này, lúc đó, tôi cũng xử sự như “thằng Cu”, chỉ tội cho bà cụ quê vì quá thương cháu. “Thằng Cu” làm toán chạy rất giỏi, đôi khi tôi phải nhờ nó giải giúp. Nghe bạn bè nói sau này nó tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh, ra trường làm quan chức ở một Bộ.

Lớp học cũng nằm trong khuôn viên nhà thờ Bình Cang cổ kính. Linh mục phụ trách họ đạo ở đây là người Pháp, vạm vỡ, râu ria xồm xoàn, dân trong vùng kể cả lương giáo đều gọi là Cố Lực. Chiều thứ sáu lớp chúng tôi phải đi lễ nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, những trò lương giáo không được làm Phép bí tích thì không được ăn bánh Thánh. Thỉnh thoảng vào những ngày Lễ Trọng nhà thờ tổ chức rước kiệu vào buổi chiều, lớp chúng tôi được tháp tùng, đi theo đường làng từ nhà thờ tới miếu thờ Trịnh Phong rồi quay về, chặng đường đi về hơn hai cây số. Tâm hồn non nớt và nhạy cảm của tôi được học giáo lý về phạm tội tổ tông, biết mình sắp chết thì phải đọc Kinh Lạy Cha, khỏi sa vào địa ngục. Một hôm tôi bị sốt nặng, nằm mê cảm thấy mình sắp sa xuống địa ngục, tự nhiên miệng tôi thốt lên lời kinh này. Vừa lâm râm đọc một hai câu, thì mẹ tôi nghe tiếng bèn hỏi: Con nói nhảm gì đó? Tôi nói trớ: Con đang ôn bài.

Cạnh nhà thờ là ngôi nhà rộng lớn dành cho Cha xứ ở, phía trước ngôi nhà là vườn nho đang mùa sai trái, lũ học trò thò lò mũi xanh ngó mà thèm nhỏ dãi. Một trưa, mấy đứa bạn rủ tôi đi học sớm để hái trộm nho. Tuy lo sợ, nhưng lòng ham muốn ăn một trái nho tươi đầu đời đã thôi thúc tôi gật đầu đồng ý. Chúng tôi lén vô vườn nho, khi vừa nhón chân giơ tay định ngắt một chùm thì nghe tiếng tằng hắng, cả bọn nhao nhao lên: Cố Lực ra, Cố Lực ra, rồi ba chưn bốn cẳng chạy mất, chỉ còn mình tôi ở lại vừa run vừa sợ! Cha xứ ngoắc tôi lại bóng mát hiên nhà, Cha ôn tồn hỏi bằng tiếng Việt lơ lớ: Các con có biết “cố ra” và “Cố Lực” nói lái theo tiếng Việt là gì không? Tôi bất ngờ trước câu hỏi này, đành vòng tay im lặng. Rồi Cha xoa đầu tôi khuyên bảo: Các con chớ nói cố Lực ra, nói câu này phạm thượng… Lần này Cha tha tội cho các con, không phải cái tội ăn trộm nho mà là cái tội nói Cố Lực ra!

 

3

Tôi nghĩ số phận mình may mắn. Nhờ cha sáng suốt mà tôi thoát chết vì chứng bệnh cảm thương hàn, cũng nhờ cha mà tôi được học Phép lịch sự và xã giao ở trường Công giáo và từ đó tôi biết ứng xử tử tế với mọi người.

Nhớ cha, tôi đã viết:

Rằm tháng Bảy
Cha thắp ba nén nhang
Vái cô hồn các đẳng
Cầu cho con chân cứng đá mềm
Khi lớn khôn
Con bị đời vật mãi
Nhờ ơn cha
Đỡ bước chân son.

Và:

Tấm lưng mốc mồ hôi – xương trắng
Trọn đời cha vắt cạn kiệt nuôi con
Khi cha qua đời – con chết lặng
Nghĩ về cha
Công ơn sâu dày hơn cả Thái sơn!

Lê Ký Thương
Sài Gòn, 2018

Advertisements