Vài suy nghĩ về thành ngữ “Địa Linh Nhân Kiệt” nhơn đọc hồi ký “Nặng Gánh Ân Tình” của tác giả Trần Văn Trữ

Hai Trầu

Scan100130001

Nhơn dịp đọc hồi ký “Nặng Gánh Ân Tình” của tác giả Trần Văn Trữ, ở cuối chương 1: Quảng Trị Quê Tôi, nhơn tác giả nhắc về quê hương Quảng Trị của mình, anh có nhắc đến các nhân tài vùng đất khô cằn xa xôi ấy của anh, được gọi là “nhân kiệt” trong câu nói ở cửa miệng người đời là “địa linh nhân kiệt”; rồi anh lại đặt ra câu hỏi cho chính anh mà cũng cho cả người đọc nữa:

“Cho nên tôi vẫn tự hỏi, phải chăng “địa linh” là yếu tố duy nhất đào tạo nên “nhân kiệt”. Mà nếu thế thì những yếu tố nào tạo thành “địa linh”? (Chương 1, trang 1, hồi ký Nặng Gánh Ân Tình)

Đây là một câu hỏi rất hay mà khó, không dễ gì trả lời cho thỏa đáng được; và đây cũng là lần đầu tôi được nghe câu hỏi thú vị này! Tôi nghiệm ra, có thể đó là một trong những  bí quyết mà tác giả với chất liệu sống hơn tám mươi năm dạn dày kinh nghiệm ở trường đời đã mang đến cho người đọc một ý tưởng vô cùng hấp dẫn và làm người đọc là một người nhà quê già như tôi phải bồi hồi suy nghĩ!

Quả thật với câu hỏi rất thú vị ấy đã khiến tôi phải tìm đọc lại sách vở xưa để tìm hiểu xem người xưa quan niệm như thế nào về sự hình thành của vũ trụ cùng sự tương quan giữa con người với trời đất nữa.

Trong chiều hướng lần mò tìm về sách cũ đó, trong đó có quyển Liệt Tử và Dương Tử của học giả Nguyễn Hiến Lê dịch và giới thiệu có đoạn:

1/ VŨ TRỤ THÀNH HÌNH

(Tử Liệt Tử viết: Tích giả thánh nhân…)

“Thầy Liệt Tử bảo:

Các thánh nhân đời xưa cho rằng âm dương điều hòa trời đất (tức vũ trụ). Cái hữu hình từ cái vô hình mà ra, vậy thì trời đất ở đâu mà ra? Cho nên ta bảo rằng cái Thái Dịch, cái Thái Sơ, cái Thái Thủy, cái Thái Tố.

Cái Thái Dịch (cái Biến đổi lớn) là cái trạng thái chưa thành khí; khi khí bắt đầu thành thì là cái Thái Sơ; khi hình bắt đầu thành thì là cái Thái Tố. Khi có đủ khí, hình, chất rồi mà ba cái đó chưa tách rời nhau ra thì gọi là Hỗn luân. Gọi là Hỗn luân vì vạn vật còn hỗn hợp nhau, chưa rời nhau ra. Nhìn vào không thấy, rờ nắm không được, cho nên gọi là Dịch (Biến đổi), biến đổi thì không có hình nào (nhất định) cả. Nó biến đổi mà thành ra Một; Một biến thành ra Bảy; Bảy biến thành ra Chín. Tới Chín là cùng, rồi lại trở về Một (a). Một là khởi thủy của các sự biến hình. Cái trong nhẹ bốc lên thành trời, cái đục và nặng lắng xuống thành đất; còn cái khí xung hòa (b) thì thành người.

Vậy trời và đất chứa cái tinh của vạn vật, mà vạn vật hóa sinh.” (1)

Sự hình thành vũ trụ là như thế, còn quan niệm của Dương Tử về sự tương quan giữa con người và vạn vật thì sao?

 2/ ĐỒNG HÓA VỚI VẠN VẬT

“Dương Chu nói:

Con người bản chất giống trời đất, có đức tính của ngũ hành, là loài tối linh trong vạn vật, nhưng móng tay và răng không đủ để tự vệ, da thịt không đủ để kháng cự, chạy không đủ để trốn nguy; lại không có lông để che nắng tránh lạnh. Phải nhờ cậy vào ngoại vật để tự nuôi sống, nhưng phải dùng mưu trí chứ không ỷ vào sức mạnh được Cho nên trí khôn quý ở chỗ nó bảo tồn được thân ta; mà sức mạnh đáng khinh ở chỗ nó tàn bạo với các sinh vật khác.

Thân ta không phải là của ta, nhưng đã sinh ra rồi thì không thể không bảo toàn nó được. Các sinh vật khác không phải là của ta, nhưng đã có chúng rồi thì không được diệt trừ chúng đi.

Đời sống tùy thuộc thân ta, mà thức ăn của ta tùy thuộc vạn vật. Tuy bảo toàn được thân ta, nhưng không làm chủ hoàn toàn nó được; tuy không diệt trừ các sinh vật khác, nhưng không thể làm chủ hoàn toàn chúng được. Làm chủ vật và làm chủ thân ta, tự ý muốn làm gì cho thân mình và cho vạn vật cũng được, họa may bậc thánh nhân mới được vậy. Coi thân mình là vạn vật, coi vạn vật là thân mình, thì chỉ bậc chí tôn mới được vậy. Đó là tột bực của sự hoàn thiện” (2).

Qua hai quan niệm vừa dẫn, chúng tôi thấy rất khế hợp với lời nhận định trong “Câu chuyện ở đền Hạng Vương” trong Truyền Kỳ Mạn Lục  của Nguyễn Dữ, có chép:

“Hạng Vương nghẹn lời không biết nói ra sao, sắc mặt tái như tro nguội. Bên cạnh có một lão thần họ Phạm, tiến lên nói rằng:

–        Tôi nghe làm người ta không ngoài trời đất để mà sống, làm chính trị không ngoài cương thường để dựng nước”(3)

Nhưng có một quyển sách xưa nữa đã nhắc đến thành ngữ “địa-linh nhân-kiệt”, chắc cũng nên nhắc qua cho rõ:

“Nước Việt ta lập-quốc, sơ-kỳ thủy-tú, địa-linh nhân-kiệt, liệt vào hàng với nước trên toàn-cầu, những kẻ tài-năng lỗi-lạc vốn chẳng kém người. Duy khí thiêng un-đúc lại, sinh ra có nhiều bậc kỳ-tài, sống làm danh-tướng, chết làm danh-thần, đàn-bà thì tiết-nghĩa, người trinh-tiết, chính-khí ấy thường chu-lưu bàng-bạc ở khoảng trời đất, hoặc tan ra làm Đạo-cốt, làm Tiên-phong, còn mãi trên đời không tiêu-diệt.

Xem như các sách: Công-Dư-Tiệp-Ký, Truyền-Kỳ Mạn-Lục, Lĩnh-Nam Chích-Quái, Tang-Thương Ngẫu-Lục thì thấy rõ.” (4)

Qua các dấu tích xưa vừa dẫn, có thể nói từ rất xa xưa đất nước Việt vốn ở trong trời đất mà sự sống ở đó là sự hiện diện giữa con người với thiên nhiên vạn vật mà trong đó đất đai là nền của mọi sự sống. Do vậy, trong việc thử đi tìm cho lời giải đáp trong câu hỏi của tác giả Trần Văn Trữ về địa linh: “Mà nếu thế thì những yếu tố nào tạo thành “địa linh”?”, thiết nghĩ, là người đọc, chúng ta nên trở về với đời sống thực của mình trong đời sống thường ngày qua một vài vùng đất tượng trưng cho cuộc sống mỗi ngày ấy hầu tìm ra những “yếu tố nào?”

Là một người nhà quê già, tôi thấy ở nhà quê, hầu hết dân quê sống về nghề làm ruộng, bà con ở nhà quê rất quý trọng đất đai nơi mình ở. Do vậy mà ơn thôn quê người ta có tập tục cho rằng đất nào cũng là đất linh; nên ở mỗi phần đất thổ cư hay đất ruộng trong đồng trong bái xa gần thỉnh thoảng người ta có lập miếu thờ ông THỔ THẦN; còn trong các ngày Tết, ngày giỗ khi dọn mâm cơm cùng lễ vật lên cúng vái ông bà cha mẹ đã khuất bóng thì thường dọn đủ ba mâm: Một mâm cúng ông bà, cha mẹ đã quá vãng là mâm chánh; một mâm cúng cô bác đã ra người thiên cổ; và còn một mâm thứ ba nữa dành để cúng đất đai viên trạch. Mâm đất đai viên trạch là mâm cơm cúng thức ăn kiếng thần đất tại chỗ mình đang ở.

Như vậy nguồn gốc thờ ông thần đất bắt đầu có từ khi nào?

Trong sách vở xưa bàn về các vị thần linh trong đó có thần cây, thần đá, thần sông, thần Thổ-địa của Đằng Châu… bao gồm ý nghĩa là vùng đất trở nên linh thiêng, có lẽ quyển Việt Điện U-Linh Tập của Lý Tế Xuyên là quyển đầu tiên nhắc về thần Thổ Địa ở Đằng Châu:

“Xét sử Độ-Thiện chép rằng Vương vốn là thần Thổ-Địa ở Đằng-Châu

Vua Lê-Ngọa-Triều đang lúc làm Khai-Minh-Vương, thực-ấp ở Đằng-Châu, thường đến làng đó; thuyền đang đi giữa sông, đang lúc vua du-lãm, hốt-nhiên ban ngày tối đen, mây kéo mù-mịt, rồi gió mưa ào đến, vua bảo kiếm chỗ đậu tránh, thấy trên bờ cao có đền thờ mới hỏi người trong thôn rằng:

–        Đền ấy thờ thần gì?

Thôn dân thưa:

–        Ấy là đền cổ thờ thần Thổ-địa của Đằng-Châu.

Vua hỏi:

–        Có linh không?

Thôn-dân thưa:

–        Dân trong châu này nương nhờ vị thần ấy, cầu mưa đảo tạnh lập tức thấy linh-ứng.

Vua mới lớn tiếng gọi rằng:

–        Thần như có linh thì làm thế nào cho lui được gió mưa khiến bên này tạnh, bên kia mưa thì ta mới tin là có linh nghiệm.

–        Nói đoạn, quả nhiên nửa sông gió, nửa sông mưa, vua khỏi bị ướt áo xiêm. Vua lấy làm lạ, bảo trùng-tu lại miếu-vũ.

Người đời đương thời có bài ca rằng:

Tốt thay Đại-vương oai thanh trọng,
Đằng-Châu thổ-địa được an-cư.
Hay khiến gió mưa không xâm-phạm,
Nửa sông tạnh ráo, nửa sông mưa.”

Vua nghe được, thầm tự-phụ là phúc trời. Vua cha băng hà, vua Trung-Tông lên ngôi, em là Long-Đĩnh (Ngọa-Triều) mưu đại-sự, đến cầu mộng. Mộng thấy một dị-nhân ngâm rằng:

Muốn thắng tất thắng
Muốn thành tất thành.
Phương dân đều thuần phục.
Nước nhà hưởng thái-bình.

Trong năm năm lạc nghiệp.
Tự bảy miếu an-linh.
Thời ấy xem lẽ ấy.
Giữa trời xem bằng-trình.

Vua tỉnh dậy, không hiểu ý-nghĩa làm sao, nhưng cũng quyết chí giết anh.

 Đã được ngôi vua rồi, mới thăng Đằng-Châu làm Thái-Binh-Phủ, phong thần Thổ-Địa làm Khai-Thiên Thành-Hoàng Đại-Vương. (5)

Nhắc về sự lập miếu thờ ông Thổ Thần, ông Thổ Địa có lẽ sách “Thần, Người Và Đất Việt” của Tạ Chí Đại Trường thời đại chúng ta đang sống là bàn rất kỹ về nguồn gốc và việc thờ phượng này:

Thần linh một khi đã được thờ cúng, đã có trú sở nhất định thì ít hay nhiều cũng là một loại thần đất trong vùng, có lãnh vực quyền uy co giãn với đám dân chúng đến cầu xin bảo trợ, cảm nhận được uy thế của thần quanh vị trí trú đóng. Đối với dân chúng nông nghiệp thì “đất” còn có nghĩa là đất sản xuất, và thần đất ở đó tiến đến chỗ thành những thần linh bảo vệ mùa màng, cai trị đất từ cõi linh thiêng và có quyền uy – hay nói theo một nghĩa nhân bản hơn, có nhiệm vụ bảo đảm sự an toàn của người dân trên vùng đất ấy.

(…)

Những thần linh địa phương có trú sở trên vùng đất với tín đồ thờ cúng, như đã nói, đã là một thứ thần Đất, tuy ta không biết tên xưa cũ riêng biệt được gọi là gì. Chuyển sang từ Hán, đó là những Thổ địa, Thổ thần mà cấp bực ở quận, huyện từ các triều đại Hán, Lục Triều được hưởng tế lễ, có tên là Thành hoàng. Vị Thành hoàng được chính thức cúng tế đầu tiên năm 555 là của thành Dĩnh, khi Mộ Dung Nghiễm giữ ngôi thành ở Vũ Xương này. Đến đời Đường thì mỗi lần lập cơ cấu hành chính mới là người ta xây đền thờ thành hoàng nơi ấy. Thần đất ở làng, khu phố, cầu đường, cánh đồng, đền đài, công thự… là của dân chúng, ngang tầm dân chúng nên đành chịu lép vế, không có chức tước. Thứ bực thành hoàng-thổ địa thành hình từ đó.” (6)

Vâng, chuyện thần Thổ Địa là vậy, nhưng trong kho tàng sách vở xưa nay còn nhiều nữa nhưng vì tài hèn sức yếu, lại thêm tuổi già nên tôi không làm sao biết hết được. Tuy vậy cũng suy ra được câu trả lời tạm về nỗi băn khoăn của tác giả Trần Văn Trữ là: “Mà nếu thế thì những yếu tố nào tạo thành “địa linh”?.Theo sơ kiến, xin thưa rằng có thể có ba yếu tố chánh:

a/ Trước nhứt, muốn có địa linh, phải có sự hiện diện của con người. Bởi lẽ chỉ có con người mới biết được nơi nào là đất thường nơi nào là địa linh. Chính đất đai không bao giờ tự phong cho mình là địa linh mặc dù đất là yếu tố chính làm nên vũ trụ bao la nầy.

b/ Yếu tố thứ hai muốn trở thành địa linh, con người vùng đất ấy phải có niềm tin vào “khí thiêng un-đúc lại” của trời đất và sự thờ phượng như trường hợp câu chuyện thần Đằng-Châu trong Việt Điện U-Linh Tập của Lý Tế Xuyên và nhiều địa danh khác khắp nước Việt từ cổ chí kim, nhiều và nhiều lắm.

c/ Yếu tố thứ ba mà cũng là yếu tố rất quan trọng để một vùng đất được mênh danh là địa linh, thì trước hết con người sống ở vùng đất ấy phải trui rèn để tài giỏi hơn người trước đã. Có tài giỏi hơn người chẳng những chính mình được nhờ tiếng tốt danh thơm, mà dòng họ cũng được thơm lây và đất đai lại càng hãnh diện mang tên “địa linh” vì có được nhiều “nhân kiệt”; bởi lẽ Trời Đất và Con Người vốn dĩ cùng một thể và tương sanh, tương hợp với nhau như người xưa từng tìm kiếm và nhận định vậy!

Lấp Vò, ngày 20 tháng 8 năm 2018

Hai Trầu

—————–

Phụ chú:

(1)            (Liệt Tử và Dương Tử, trang 88, Nguyễn Hiến Lê dịch và giới thiệu, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, năm 1972.)

(2)            Đồng Hóa Với Vạn Vật trong Liệt Tử và Dương Tử, sđd, trang 280.

 (a) Lão Tử nói: “Đạo sinh ra Một, Một sinh ra Hai, Hai sinh ra Ba, Ba sinh ra vạn vật.” (Đạo Đức Kinh, chương 42)

 (b) Xung hòa nghĩa là ở trung gian mà ôn hòa. (Liệt tử Và Dương Tử (sđd), trang 89

 (3)            Truyền Kỳ Mạn Lục (toàn tập) của Nguyễn Dữ. Bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Xuân Thu tái bản, không thấy ghi năm, trang 21.

(4)            Bài-Bạt Tùng-Bổ Tập Việt-Điện U-Linh Toàn-Biên phần Phụ lục của đạo-nhân quán Tam-Thanh, trích trong  Việt-Điện U-Linh Tập của Lý-Tế-Xuyên. (Bản dịch của Lê Hữu Mục, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960, trang 149.)

(5)            Việt-Điện U-Linh Tập của Lý-Tế-Xuyên. (Bản dịch của Lê Hữu Mục, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960, Chuyền thần Đằng-Châu, trang 112)

 (6)            Thần, Người và Đất Việt (Bản mới) của Tạ Chí Đại Trường, Văn Học xuất bản, California, Hoa Kỳ, năm 2000, trang 89 và 92)