Có Một Thời Như Vậy

Cao Vị Khanh

Image result for bìa thư quán bản thảo

Chừng gặp nhau cả bọn không ai còn trẻ. Cho dù tuổi tác chưa đến đổi oằn vai nhưng sức trì của một quá khứ oan khuất vẫn trìu trĩu sau lưng như một lực quán tính khó cưỡng. Cuộc chiến mà chúng ta đã sống trọn một tuổi thanh niên đã kéo dài quá sự cần thiết để tỏ ra cho hết cái vô nghĩa của nó. Rồi cái kết cuộc lãng nhách chỉ làm bẽ bàng thêm cho một sự dấn thân đã bị bội phản từ đầu. Thân xác chúng ta có tàn phế sau những trận pháo tung tóe, nhưng chính hồn chúng ta thì đã tử thương từ khi tiếng súng im hơi. Chính trong những trại tù (cải tạo!?) núp giấu giữa rừng thiêng nước độc, đã bày ra một cuộc thảm sát mới, thầm lặng nhưng không kém phần cuồng nộ, để tiêu diệt hồn tính con người. Bằng mọi cách, từ rào kẽm gai đến phên nứa tướt nhọn, từ đày đọa khổ sai đến bỏ đói kiệt lực, cùm gông đến biệt giam, trói thúc ké đến bò lết… từ con người đến con vật người…
Vài ba năm, năm bảy năm…
Thoát ra, mọi người còn cái xác xơ vơ xửng vửng, hồn thì vật vờ như lỡ nếm chén cháo lú qua sông Nại Hà. Thoát ra, anh chạy đường anh, tôi chạy đường tôi. Chạy chết. Qua sông. Qua rừng. Qua biển…
Chừng gặp nhau, giữa một chỗ lạ lẫm đến ngỡ ngàng, cả bọn dù chưa già thì cũng đã cỗi, cỗi như chính cái dòng lịch sử bầm dập đã chảy ròng rã và đục khoét đêm ngày lên đời sống chúng ta.
Bằng cách nào thì sự sống sót qua cuộc sinh tử đó cũng có cái giá của nó.
Hơn 30 năm tranh sống với cái chết giữa đường tơ kẽ tóc, thêm năm mười năm cùng kiệt trong các trại tù ngụy danh hay vật vờ giữa một xã hội đảo điên, còn lại gì nếu không là một sự chán chường tột độ và nghi ngờ hết mức về những giá trị được gọi là nhân bản.
Súng đạn thì giết người ngọt lịm mà lửa phần thư thì đốt người âm ỉ. Giàn hỏa thiêu sách vở là một cuộc tru di chậm nhưng chắc. Và mục đích của nó tồi tệ hơn bất cứ một hành vi man rợ nào. Lửa đốt từng trang sách là lửa đốt từng nếp văn hóa đã có thời rực rỡ, giữa lòng ta.
Nhiều năm sau, khi đã lang thang mòn mỏi trên xứ người, vậy mà lớp tro than cũ vẫn cứ còn âm ỉ… Nhật Tiến đã có lần viết “Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ ” kể lại cuộc chiến vô vọng của một kẻ thất thế muốn giành giữ lại mớ gia tài sách báo của một thời…
Dĩ nhiên sách vở cũng chỉ là những trang giấy, không đốt thì cũng có lúc mối mục ruỗng mòn. Chữ viết cũng chỉ là những dấu ký âm có lúc cũng sẽ phai lợt theo ngày tháng. Cái đáng nói chính là ý hướng phụng vụ trong hành động sáng tạo của bao người đã hiến mình cho một lý tưởng nghệ thuật hay khoa học được ghi chép lại trên những trang giấy, qua những hàng chữ, những đêm những ngày, những tháng những năm, những cặm cụi, những nghiền ngẫm hết một đời, những suy tư qua nhiều kiếp… chắt lọc, tích lũy, lưu truyền. Ðiều đáng nói nữa là cái dòng sống chính thống chân chất và hồn hậu của một dân tộc đã được nuôi dưỡng ở phần đất bên nầy vĩ tuyến 17, cái mạch nối liền lạc của tinh thần nhân văn của một dân tộc dù đã lắm bôn ba… thể hiện trong tầng tầng sách vở của miền Nam bỗng chốc bị đem ra phóng hỏa. Lửa cháy từ giàn hỏa cháy lan cả phận người. Ðể từ đó, cả nước là một cuộc hỏa thiêu toàn diện…
Nhiều năm sau nữa, cả anh cả tôi, có khi ngồi ngơ ngẩn. Những câu thơ đã một thời ưa thích vụt nhớ vụt quên. Những trang sách đã một thời gối đầu không còn tìm đâu thấy nữa… Chừng gặp nhau trên đất khách, chúng ta như một giống người không có quá khứ, không có cả chiếc bóng để tự vỗ về mình. Chúng ta trần truồng dù quần áo đã thôi chắp vá, chúng ta trơ trọi dù phố xá cứ đông nghịt người qua, chúng ta ngu ngơ dù sách báo phim ảnh tràn ngập. Mà điều quan trọng nhất còn là nỗi não nề về một sự đảo lộn giá trị đến cùng cực, đã và đang được áp đặt trên cái quê hương khốn khổ mình đã bỏ đi. Cái đen thành trắng. Cái xấu thành tốt.
Quan trọng nhất là chính chúng ta, chúng ta lại không thể tin vào bảng giá trị mới đó. Chừng gặp nhau ở xứ người, mỗi người trong chúng ta không ai không thấy một sự hụt hẫng nào đó trong lòng, ngay giữa một cuộc sống mới chẳng những không thiếu một thứ gì mà còn gần như có đến thừa mứa…

Có lẽ một trong những thú vui mà ai nấy không quên được, từ cái thuở trấn đóng tiền đồn trên một đỉnh núi ngập mây, hay dạy học ở một tỉnh lẻ, những thứ ba thứ năm hay thứ bảy, đón chuyến xe liên lạc lên từ hậu cứ hay chuyến xe liên tỉnh từ Sài-gòn về, lòng như có chút gì nôn nao khi chờ người ta bốc dỡ những gói báo, những thùng sách… còn thơm y nguyên mùi giấy mực. Nhưng dù mua sớm hay mua trễ, sau đó, chính trong góc khuất của một quán vắng, hay trong góc kín của một giao thông hào, có khi bên cạnh một tách cà-phê đặc sệt hay chỉ là một hơi thuốc mỏng như sương, một mình, chỉ một mình, chúng ta đã sống những giây phút lâng lâng của một gặp gỡ thân tình bậc nhất. Khi bàn tay xòe ra vuốt sơ qua mặt bìa láng lẩy hay thô nhám, có khi là hình chụp một bức tranh hay chỉ là bảng liệt kê tên tác giả, khi ngón tay cọ lên góc giấy còn thẳng băng chưa có một dấu gấp, ngón tay ta sao cứ gượng nhẹ y như đang vuốt má một người tình, sợ giấy mực đau y như ngại làm đau đôi gò má mỏng tanh li ti những đường gân máu. Có cái gì đó trinh nguyên làm ta trân trọng. Có cái gì đó thăm thẳm làm ta ngại ngần. Cái gì như cái đau đáu của trang giấy chờ mãi phút-linh-không-về, cái gì như cái thắc thỏm của ngòi bút ngần ngừ để lỡ một thoáng ý qua nhanh, cái gì như cái bóng gãy gập của người viết đang làm chuyện đẻ-đau chập chùng trên tay ta, giữa những trang chữ…

Sau những năm 60 với Hiện Ðại của Nguyên Sa đem về hơi sương của sông Seine, Sáng Tạo của Mai Thảo, Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong, rồi Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh với thuở trồng lan bên suối Ðam Mê, Tân Phong, Ðông Phương… là những năm 70 với Văn, Bách Khoa, Khởi Hành… Nghệ Thuật, Vấn Ðề, Thế Kỷ Hai Mươi, Thời Tập… chưa kể những tuần báo, nguyệt san hay bán nguyệt san có tính cách đại chúng như Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Thời Nay, Phổ Thông… chưa kể những Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc… mua hết không chừa. Những thơ, những văn, những truyện dài truyện ngắn, những bút chiến phê bình. Mơ mộng ở đó, vui buồn ở đó, mà nghĩ ngợi học hỏi cũng ở đó. Ðọc ở đó để thấy cái lãng mạn tuyệt vời của những người đi đánh trận, để thấy cái hy vọng trong những chùm hoa nở trên sợi kẽm gai, để thấy có khi tiếng ca át cả tiếng súng, để thấy trong cùng khổ con người vẫn vươn lên như đám mạ non vươn lên từ một đêm tối. Ðọc ở đó để thấy những cánh huyết hoa nở ra từ những bãi máu.
Thử nghĩ đến những người thắp ngọn điện câu leo lét mà viết. Thử nghĩ đến những người che poncho đốt ngọn đèn cầy mà viết. Những cô học trò chưa rời ghế nhà trường. Những anh sinh viên lang thang giữa những hành lang đại học. Ðủ hết. Người viết tha hồ viết, lặng lẽ hay huênh hoang. Người đọc tha hồ đọc, chấp nhận hay khích bác. Có điều phải nhận rằng dù thích hay không thích, không ai có thể phủ nhận cái đẹp đã thành tựu trong văn chương ở miền Nam buổi đó. Câu văn có trau chuốt hay không cũng đã sáng sủa nhẹ nhàng trôi chảy biểu lộ sự trưởng thành của một thể loại chỉ vừa mới sinh ra từ đầu thế kỷ. Ngay cả cái kho ngữ vựng Hán-Việt cũng đã trong sáng và phổ quát không kém cái vốn liếng nôm na. Thơ buổi đó bay lượn trên đầu súng, tung hê thỏa thích. Văn buổi đó luồn lỏi giữa những đường bay của bom đạn mà vẫn thung dung tự tại, đủ sức khai triển đến nơi đến chốn những khái niệm trừu tượng và siêu hình nhất, bằng một văn phong trong sáng và hoàn chỉnh. Chẳng bằng với cái loại tàn tích được «du nhập» từ «quê nhà» sang đây trong những năm 80, 90 và còn kéo dài cho đến bây giờ trên những «tờ báo» được tặng không trong những cửa hiệu chạp phô bán đủ thứ tiêu hành tỏi ớt và nước mắm kể từ khi có cái-gọi-là-giao-lưu-văn-hóa!

Ðành rằng ngôn ngữ cũng có đời sống hẳn hoi (chẳng vậy mà có những loại chữ đã thành tử ngữ), nghĩa là cũng trải qua một quá trình sinh tử, có sinh có hủy, có sự tiến hóa như mọi chủng loại khác. Nhưng tiến hóa phải có nghĩa là tiến từ thấp lên cao, từ tối tới sáng, từ dở tới hay chớ sao lại có sự tiến hóa ngược đời? Cái tiếng gọi «nhà bảo sanh» thì ngay cho đến đứa nhỏ học lớp năm hổng chừng cũng hiểu được, thì nhân danh một sự tiến bộ nào mà đổi thành «nhà đẻ» cho đành. Cũng như cái lối viết với câu cú trục trặc, trắc trở, trắc tréo, trặc trẹo… nhan nhản trong sách báo ở miền Nam sau năm 75, ở cái thời người ta gọi là thời giải phóng. Tưởng chạy thoát là thoát luôn cái nạn chữ sau cái nạn nước, ngờ đâu chừng gặp lại, không ai trong chúng ta không khổ sở, khi ở quê người còn phải tiếp tục chịu đựng cái lối «ngây ngô hóa» mớ tiếng Việt đáng thương của chúng ta. Cái hay sao không bắt chước, bắt chước chi cái dở cho đành!
Trong cái bối cảnh bát nháo của chợ người chợ đời, không đâu mà xui chúng ta gặp nhau.
Chừng gặp nhau, hẳn là ngẫu nhiên. Nhưng uống với nhau ly rượu thứ hai đã là hạnh ngộ.

Ðêm tháng 11, ở một nơi không có núi non sao lòng ta bỗng thấy cao sơn, ở một nơi không có sông nước sao lòng mình gặp nhau lưu thủy. Cả bọn lòng trải ra, tâm đắc. Có cái gì «riêng» mà «chung» rất lạ. Tâm sự anh, nỗi lòng tôi.

Cùng một lứa bên trời lận đận. Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau. Từ xa kinh khuyết bấy lâu. Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai. (*)

Tàn đêm, bốn bến Tầm Dương nhập lại làm một, áo xanh tư mã gói cất lại hạt lệ riêng. Cả bọn làm một chuyến lên đường chung. Thư Quán Bản Thảo.
Tháng 11 năm 2001:
«Mục đích là giữ gìn và phổ biến những sáng tác của bạn bè thân hữu và những người làm văn học nghệ thuật của miền Nam trước 1975. Họ đã bị quên lãng. 25 năm qua, quá lâu, quá dài, để nói một lời tạ lỗi và cám ơn của chúng tôi. Về những giữ gìn của họ, về khí phách của họ, nhọc nhằn của họ, để văn chương miền Nam ngày nào không bị đồng hóa và lai hóa.»
7 năm sau, 30 số báo, không phèn la cũng chẳng kèn trống, những số báo vẫn được gởi tới tay bạn đọc, đều đặn.
Thử tưởng đến con đường đi của số báo vừa nhận được trên tay…
Khởi đầu là một đôi câu thơ làm bên giàn máy bê bết dầu mỡ, rồi quên lửng trong tiếng động ì ầm, cũng có khi là một vài đoạn viết rời bỏ kẹt trong hốc tủ được lục ra, phủi bụi… thì ra suốt 20 năm im lặng vẫn là một nỗi tha thiết không ngơi với mớ chữ nghĩa đã có lần là lẽ sống. Từ bên kia đầu giây viễn liên tiếp tục những lời nhắc nhở, thúc hối, khuyến khích, … anh viết, tôi viết… Bỗng chốc rồi một cơn hứng khởi mới… Bỗng chốc rồi con tim mệt mỏi bắt lại cái nhịp sáu tám của lục bát, bỗng chốc rồi thơ ở đâu ùa về, văn ở đâu đổ tới, cả bọn sống lại cái say mê của một thời tuổi trẻ, thở lại cái hơi ngất ngưởng trên đầu ngọn bút những năm 60, 70… mùi giấy mực từ một quá khứ thổi về làm căng lại lồng ngực… Rồi là những đêm miệt mài viết, xóa, viết, xóa…

Cuộc chơi bắt đầu. Tập 1 mỏng như một cái ngoắc tay rụt rè. Cuộc chơi tiếp tục. Tập 2 dầy thêm một ngón tay níu. Rồi những cánh tay choàng tới, ân cần… Bạn bè lần lượt trở về càng lúc càng đông… Từ một góc bàn viết gá nhờ giàn bếp, trong một gác lửng cheo leo giữa một chung cư ngất ngưởng đến một chiếc bàn khuất lấp trong một góc quán cà phê ồn ào… xa hơn nữa, bất ngờ hơn nữa, những dòng thơ những trang chữ viết lén viết lút bay vuột sang từ bên kia biển dữ… Cứ vậy, bài vở lần lượt bay đi bay lại, rồi được sửa chữ, sắp trang… Những đêm sau một ngày vất vả ở hãng xưởng, những ngày thứ bảy chúa nhật sau một tuần lễ mưu sinh mệt đừ … Vẫn vui, vẫn cặm cụi, vẫn cằn nhằn vì những trễ nải, … mà vẫn vui, vẫn cặm cụi và vẫn cằn nhằn… Xong một chặng đường, bài vở lại theo đường điện thư gởi vèo qua một căn nhà khác ở Plainfied (NJ), chui xuống hầm và in thành tập bằng một loại máy in «duy nhất», thứ máy in được biến chế bằng đủ loại thập vật phế thải kể cả nồi niêu soong chảo của vợ nhà. Giấy, mực thì rình mua trên E-bay hay bán tháo bán đổ ở những cửa tiệm phá sản. Báo in xong cắt dán bằng tay, keo nung nóng đốt phỏng tay là thường… Vẫn vui, vẫn say mê, vẫn hớn hở mỗi lần nhìn thấy từng tập báo hoàn thành. Rồi cột rồi bó rồi vác từng thùng chất lên xe chạy ra nhà bưu điện, gởi đi tám hướng. Vác mệt còng lưng, dán tem mệt nghỉ. Vẫn vui, vẫn mừng… Cám ơn, cám ơn vô vàn những tấm lòng đã làm một việc gần như «khùng khịu» nhất đời để cuộc chơi chung của bạn bè còn có cơ tiếp diễn, để người quen kẻ lạ còn có chỗ trải bày tâm sự, để văn chương khỏi bị «cách» cái « mạng » oan tình.
Vậy đó, từ sáu bảy năm nay, TQBT đã đi con đường quanh co vậy đó. Ði quanh co để tới thẳng những trái tim trung thực. Con đường vòng vo đó có phải là con đường ngắn nhất để nối lại những mảnh đời tứ tán, từ sau cơn tháo chạy mất hồn. Chẳng vậy mà, ngay sau khi gởi đi đã có những đồng tình gởi lại. Dù ít dù nhiều vẫn là chút chắt chiu của những tấm lòng đồng điệu.
Chẳng vậy mà sớm hơn ở đâu hết, trên TQBT, chúng ta gặp lại những người-trăm-năm-cũ. Những người bị cố ý bỏ quên, dù vẫn còn có mặt tại cái nơi đang hô hào nghe đến thảm thiết cái chủ trương xóa-bỏ-hận-thù? Những người chỉ có cái tội duy nhất là ca tụng cái đẹp muôn đời, mà thơ văn một thời đã làm dịu bớt bộ mặt cau có của chiến tranh, hay ít nữa cũng đã giúp người ta quên được đôi phút giây trần thế.
Chẳng vậy mà trên những trang giấy mới chúng ta tìm lại được mấy chút hương xưa.
Hoài Khanh, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyên Minh, Phạm Ngọc Lư, Võ Tấn Khanh, Tôn Nữ Hoài Mi, Trần Huyền Ân, Từ Thế Mộng, Phan Nhự Thức, Hà Nguyên Dũng, Hạc Thành Hoa, Nguyễn Lệ Uyên, Mang Viên Long, Tô Ðình Sự, Hồ Thủy Giũ, Lữ Kiều, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Lê Văn Thiện, Lê Văn Trung, Hạ Ðình Thao, Ðinh Trầm Ca, Lâm Anh, Nguyễn Dương Quang…
Dĩ nhiên là không đủ, còn thiếu rất nhiều, những người văn nghệ đã đóng góp một thời tuổi trẻ cho sự sáng tạo từ những tro than. Sự vắng mặt nào cũng là một thiệt thòi. Nhưng làm sao hơn nữa, cái chuyện sẩy đàn tan nghé !

30 số báo. Dẫu mang nhiều tâm ý vẫn là một cuộc chơi. Ðã chơi thì có kể gì thành bại. Cái đáng nói là sau hết, đâu đây, vẫn còn đó… những con mắt xanh thấp thỏm…
Cũng đủ rồi bạn hả?

Cao Vị Khanh
(trích Tạp Bút Xanh)

(*) Tỳ bà hành