Nghề thầy (1)

Cao Vị Khanh

Image result for hình ảnh thầy đồ ngày xưa
tranh minh họa: Internet

1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụi…

Năm hai mươi ba tuổi tôi bỏ cái chỗ quen thuộc, kín đáo, rất an toàn chỉ có hơi ồn ào chút đỉnh, vẫn thường ngồi chung với bạn bè mỗi khi đến trường để nhảy lên cái ghế đặt lỏng cha, lỏng chỏng trên bục gỗ, trơ trọi như cục đá thờ trong miếu ông tà. Tôi nhảy một bước từ cuộc đời vô sự của học trò để lên cuộc đời lắm sự của nghề thầy. Nói là một bước cho có vẻ văn vẻ chớ thật ra tôi đâu có làm khác hơn mọi người được. Tôi cũng đã phải bò rách không biết bao nhiêu cái quần của cha mẹ sắm cho để lên tới cái chỗ mà thời trước thì gọi là giáo sư (nghe như quan lại phong kiến lắm) mà thời sau thì vì nhân dân đã được đẩy lên làm chủ đất nước cho nên chỉ gọi là thầy giáo, theo kiểu như thầy pháp thầy chích thầy lụi cho có vẻ nô bộc của nhân dân hơn. Cũng gần mười bảy mười tám năm trời chớ có ít ỏi gì đâu. Kể từ lúc đi học lớp chót lúc nào cũng phải có người kè kè đưa rước kẻo không chàng tuổi trẻ quay đầu hồi gia lập tức cho tới cái năm cuối cùng thi tốt nghiệp xong ở trường Ðại Học Sư Phạm mà cứ lẩn quẩn hoài không chịu quy cố hương chỉ bởi hồn-lỡ-sa-vào-đôi-mắt-em (mấy chữ này mượn đỡ của ông nhạc sĩ Hoài Linh) đen như hột long nhãn của cô em bán cà-phê hủ tiếu ở góc chợ Nancy. Mà nghĩ cũng ngộ, tôi là cái thằng bê bối du côn du kề nhất trong cái đám mấy thầy tương lai ăn chực nằm chờ ở tiệm nước đó, vậy mà lại được chiếu cố tận tình. Còn mấy ông bạn của tôi, người nào người nấy đạo mạo đứng đắn như đã làm thầy từ lúc cha sanh mẹ đẻ thì phải ôm cầm tấp đỗ qua thuyền khác. Vốn là ông chủ tiệm gốc người Quảng Ðông, lấy bà vợ miệt lục tỉnh, đẻ ra năm cô con gái tới tuần cặp-bồ một lượt, hay là xê xích chút đỉnh gì đó. Mà làm như ông ta cũng không khéo tay khéo chưn gì cho lắm. Nên bốn cô chị giống như bốn tờ giấy nháp, trật trịa đủ nơi đủ chỗ, chỉ có một chỗ giống y là bốn cặp mắt không mơ màng mà cũng lim dim, nhỏ xíu như mấy hột tiêu sọ. Còn lại cái cô út, chắc rút tỉa kinh nghiệm dữ lắm nên lần này ông bà sáng tác ra được một tuyệt tác phẩm, ngó đằng trước đằng sau dòm từ trên xuống dưới không có chỗ nào lạc đề ráo trọi. Mà nhất là cặp mắt của cô thì khỏi nói. Nó vừa to vừa sáng vừa đen nhanh nhánh như hột nhãn Bạc Liêu, lại lúc nào cũng mọng nước như nhãn vừa chín tới. Mỗi lần cô ra đứng tiệm thì ôi thôi tiệm đắt khách đến nỗi không còn một bàn trống. Có anh đóng đô cả ngày ở đó uống tới cả chục cái xây-chừng, có anh ăn luôn hủ tiếu thay cơm mặc dầu cà-phê hủ tiếu ở đây cũng không hơn gì chỗ khác. Tiệm lại ở gần trường cho nên từ sáng tới chiều lúc nào cũng có mấy thầy trẻ đến đó chờ giờ “lên lớp” không biết mệt. Giữa cái lúc thiếu gì yến anh như vậy thì không biết tại sao là tôi, mà không là người khác lại lọt vào mắt xanh của cô út. Nói thiệt về mặt nhan sắc tôi chỉ ở cái hạng “coi được” lại thêm cái mác “hiện sinh” nên lúc nào cũng “bụi bặm”, còn về mặt tinh thần thì lại càng không có điểm vì lúc nào cũng “buồn nôn” với lại “đâm nổ mặt trời”. Nghĩ lại lần đầu diện kiến với giai nhân mà phát nực. Giữa năm thứ nhì gì đó, ông đàn anh sắp sửa ra trường chắc thấy tội nghiệp thằng đàn em con nhà nghèo mà ham chơi nên tính cách nhường cho tôi mấy cái chỗ kèm trẻ tại tư gia để kiếm chút đỉnh tiền mà phung phí. Một trong mấy địa chỉ đó là tư thất của “ngũ long công chúa”. Tôi nào biết ất giáp gì cho cam. Ðược người ta cho công ăn việc làm là mừng hết lớn, vội vội vàng vàng cầm tờ giấy địa chỉ đi trình diện gia chủ. Vậy mà buổi hội kiến không kéo dài được quá năm phút, tôi đã được ông xếnh xáng “hồ hởi” từ chối mặc dầu đã hết mực quảng cáo mấy cái bằng cấp với lại chứng chỉ có đóng dấu nổi đàng hoàng. Chắc ông ta tưởng đâu tôi đứng bến xe đò Nguyễn Cư Trinh hay sao không biết mà lắc đầu quầy quậy. Tôi ra về mà lòng buồn hết nói. Mất miếng ăn mà lại mất một lúc trước mặt những năm người phái đẹp, dù rằng phái đẹp thật sự chỉ có một phần năm thôi, tôi vẫn thấy hận đời như Lưu Bình thi rớt trở về còn bị bạn bè xua đuổi nữa. Mà không chừng tại vậy cho nên cô út đem tấm lòng Châu Long thương người phận bạc chăng? Người ta bảo trái tim đàn bà con gái rất khó hiểu là vậy. Mà thật sự tìm hiểu làm chi cho khó. Người ta biểu thương là thương lại đi, bày đặt hỏi han chi cho mệt. Tôi vốn người nhạy cảm lại dễ tánh nên cứ nhắm mắt nhắm mũi mà đền đáp ân tình. Vả lại vừa có ân tình vừa được no đủ thì tội gì mà trốn chạy yêu đương. Cô út này chẳng những đẹp người mà còn đẹp nết nữa, không biết học ở đâu cái thói nhi nữ thường tình mà lần nào tôi ghé tiệm dẫu chỉ gọi bồi có cái xây-chừng thôi cô cũng biểu đem ra hủ tiếu với bánh giò-cháo-quẩy. Lúc đầu tôi cũng ngại ngùng lắm, nhưng phần vì sợ từ chối thì gây ra nghi ngờ lộn xộn, phần thì thấy hai cái hột nhãn chớp lia chớp lịa như đòi bóc vỏ tức thì làm tôi cầm lòng không đậu đành cắm cúi vừa ăn vừa húp cho xong. Ôi tội lỗi con người vốn thường phát sinh từ lòng vị nể vậy! Riết rồi quen thói, nhiều hôm hết tiền ăn cơm là tôi cà rà ghé tiệm uống cà-phê. Có hôm ăn chực chưa kịp gãi đầu khất chịu thì bồi ở đâu đã xắn xả đem tiền cô chủ thối lại. Nghĩ ra người ta cứ kết tội tình yêu mù quáng ở đâu không biết chớ ở đây tình yêu sáng láng đến phải biết. Giúp đỡ hàn sĩ kín đáo tới cỡ ông xếnh xáng từ bên Tàu chạy tới bên nây cắc ca cắc củm làm giàu tới vậy mà cũng không làm sao biết được. Tuy nhiên tôi là đứa con nhà có giáo dục lại còn sắp làm chuyện giáo dục nữa nên đâu chịu làm chuyện bất nhân. Cho nên mặc dầu trong bụng khoái chí tử vì thấy trả được thù nhà với hận nước chịu tới hai lần Bắc thuộc, tôi vẫn luôn luôn tìm cách đền bù ơn nghĩa bằng cách kèm thêm cho cô ta bài vở mỗi bận hẹn hò. Kể ra một công mà được rất nhiều việc. Không biết có phải tại nhờ vậy hay không mà cuối năm đó cô ta thi đậu ” bắc on” cái một. Cả nhà mở tiệc ăn mừng rất xôm tụ. Dĩ nhiên là tôi đâu có được tham dự. Vậy mà tôi cũng vui lây. Chẳng những tôi xóa được cái mặc cảm có “em gái nuôi cơm” mà còn đánh tan nỗi nghi ngờ về cái “thiên chức giáo dục” của mình nữa.

Tôi vốn là thằng bé mơ mộng từ trong bụng mẹ, lớn lên mới biết đọc biết viết đã mê chuyện giang hồ tứ chiếng, tối ngày cứ húc đầu vào mấy cái vòng rào của gia đình xã hội mà đòi chui ra. Bảy tám tuổi đã mê Na Tra cỡi bánh xe lửa xách Càn Khôn Quyển ra trận là cứ xông xáo đi tiên phuông, chín mười tuổi tôi ngốn ngon lành một mách hết mấy bộ Truyện Tàu diễn nghĩa của ông nội tôi để lại, mười hai mười ba tuổi tôi đã luyện chí bằng nguyên cái tủ sách lớn bằng tấm vách ngăn của ba má và anh chị. Mà phải là loại sách võ hiệp kỳ tình tôi mới chịu đọc lén tới bỏ cơm. Chớ còn ba cái mớ Sách Học Làm Người với lại Quẳng Gánh Lo Ði thì tôi tránh xa như tránh thuốc bắc. Thôi thì đủ kiểu đủ cách. Từ Bồng Lai Hiệp Khách, Giao Trì Hiệp Nữ đến Linh Sơn Thất Hiệp, từ Long Hình Quái Khách đến Huyết Hùng Tráng Sĩ, rồi Thiếu Lâm Trường Hận rồi Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự rồi Bát Quái Ðạo… Ôi thôi tôi một mình một cõi mặc tình ngao du sơn thủy qua lại chốn giang hồ. Cái chí trai nhỏ bằng đầu cọng tăm cứ lang thang hết tam sơn ngũ nhạc đến ba mươi sáu động bảy mươi hai bang trại dọc theo hai bờ Trường Giang nổi sóng tôi đều quen mặt biết tên. Còn mấy cái thế võ tàu thì thôi khỏi nói, tôi thuộc vanh vách. Từ “Ðồng tử bái Quan Âm” đến “Song long quá hải”, từ “Kim kê độc lập” đến “Bát thảo tầm xà”, rồi “Uyên ương cước”, “Liên hoàn cước” … tôi đều có thể chiết giải từ thế một. Vậy mà mấy bài toán đố phân số với nước chảy ra nước chảy vô… thì tôi cứ bí. Lần nào ba tôi khảo bài là cũng nước mắt ngắn nước mắt dài. Tội nghiệp mấy bà chị của tôi cứ chạy đôn chạy đáo ra dấu tay dấu chưn đến mỏi mê mà bi kịch cứ lặp đi lặp lại hoài. Tại số trời biểu vậy cãi sao đặng. Cái chuyện hoang đàng chi địa đâu đâu không biết mà mới nghe qua tôi đã thuộc nằm lòng còn mấy bài cửu chương cộng trừ nhơn chia có học đi học lại tới nát óc mà buông ra là gởi-gió-cho-mây-ngàn-bay cái vèo. Lớn lên một chút, khi đầu óc bắt đầu cọ quẹt thực tế chút đỉnh, tôi đâm chán mấy cái màn luyện linh đơn, phóng kiếm quang xẹt qua xẹt lại mà quay ra mê mấy cái chuyện viễn du chân trời góc biển. Hết dãy núi cao đụng trời Hy mã đến những chuyến săn cọp săn beo đười ươi cá sấu trong tuốt cùng rừng thẳm Phi Châu, chỗ nào tôi cũng đặt chân tới. Hồi hộp, lo sợ, rụng rời rồi mơ mộng. Tôi thả hồn mình hoang đàng trên những thảo nguyên bát ngát, những phố phường xa lạ, những bờ bãi chân mây với những bầy mọi gái biết phô hết cả núi sông mà lại không biết ăn thịt người… Ðặc biệt là những cuộc ngao du theo kiểu “Ði và Sống” của ông Lê Minh Hoàng Thái Sơn. Không biết do nhơn duyên nào mà mới mười bốn tuổi ông đã giang hồ hết mức. Hình ảnh cậu bé trùm khăn quấn áo lông thú sùm sụp đứng giữa trời mù tuyết của vùng Bắc Hải đảo (?) đã làm tôi mê mẩn đến nỗi phải sưu tầm hết sách báo của ông mà đọc ngấu nghiến. Từ Lời Nguyền Trên Máu đến Kho Tàng Thiên Bảo, rồi Ðoàn Ó Biển tới Mai Lan Hương tôi cứ tưởng mình là tên cướp biển hào hoa, mỗi lần tạt qua phòng trà tiệm nhảy ở Hương Cảng Áo Môn là búng tay cái chóc gọi rượu “hai ngón tay màu nâu” uống say đến quên thôi. Ðến khi Triệu Duy, tên cướp biển lợi hại có cú móc trái thần sầu quỷ khóc đó bị đời móc trái đến thân bại danh liệt bỏ nghề ăn cướp qua nghề viết báo thì tôi cũng đổi mộng theo làm ký giả rày đây mai đó. Tôi theo chân anh chàng phóng viên ngang tàng của tôi la cà khắp trà đình tửu quán, cười cợt nghiêng ngả với các nàng kỹ nữ mặc xường-xám xẻ hông cao tới hết chỗ xẻ, rồi len lỏi vào tận cùng hang ngách của hai giới hắc bạch giang hồ không chừa một đường ngang ngõ tắt nào. Tôi mê mệt như chú bé con được kê lên vai người khổng lồ nhìn ra tứ phương tám cõi. Cõi nào cũng làm thảng thốt tâm thần. Cứ như vậy mà tôi sống đời tôi nửa hư nửa thực, cứ hẹn lòng rằng chỉ đợi lớn lên chút nữa là bỏ nhà đi làm dân tứ chiếng.

Nói vậy mà càng lớn, mộng mị giang hồ càng teo tóp lại. Tuổi tác xô đẩy không nương tay người ta ra chạm trán với đời. Mà đời thì càng lúc càng lộ dần bộ mặt cau có rất tang thương. Những năm 60 đến rồi đi để lại toàn lời chúc dữ. Hòa bình đâu được có mấy năm là giặc giã bắt đầu trỗi dậy. Giặc đâu mà lan nhanh còn hơn bệnh ban đỏ. Hết bưng biền tới thành phố, rồi loạn lạc luôn đến cả trong lòng người. Cuối năm 63, tôi đang học lớp đệ nhị thì bỗng đâu gió “cách mạng ” nổi lên thổi ào tới cái tỉnh nhỏ vốn vẫn thường ngủ gà ngủ gật. Bị lôi cuốn bởi đám đàn anh khí thế cùng mình ở Sài-Gòn đang hí ha hí hửng múa may sau khi hạ bệ được anh em ông Ngô, đám đàn em ở tỉnh lẻ giựt mình trờ dậy quơ chụp lấy trách nhiệm của mình quyết tâm phen này quét dọn sạch trơn xã hội. Mở đầu là cái trường kín cổng cao tường đang ép uổng họ học hành đến mê mệt. Ðám học trò nhà quê lệ thường rất nhút nhát và chậm lụt, buổi sáng hôm đó không biết hớp đâu được “dũng khí” mà hè nhau đồng loạt kéo bàn kéo ghế ra sân, đả đảo ban giám đốc kèm theo luôn quý thầy cô có hơi mạnh tay chút đỉnh với quý vị học trò thích làm trò mà không thích học. Buổi sáng hôm đó lần đầu tiên tôi thấy được sự thật của một cuộc biểu tình. Những lời khích động kiểu “mị dân” làm tôi chán ngán và trở nên bi quan trước những trò chơi dân chủ. Hình ảnh ông hiệu trưởng già tóc phơ phơ phiêu hốt, đứng nghe đám học trò kể tội mà mặt không hề đổi sắc cứ làm tôi ray rứt nhiều năm về sau. Có phải chính đó là cái tinh thần uy vũ bất năng khuất mà ba tôi vẫn dặn dò? Còn cái trò hoan hô đả đảo của đám đông bỗng dưng sao làm tôi nghi ngại. Có phải phát sinh từ tâm nguyện hay chỉ là trò a dua vô tội vạ của một lũ trẻ dư thừa sức sống mà không có chỗ để tiêu thụ bèn nhắm ngay mấy ông thầy – đối tượng gần nhất và dễ nhất – mà trút lên. Giữa cảnh oái oăm đó, sao tôi thấy mỗi người thầy cô như tự dưng tách bật ra khỏi đám đông lố nhố để đọng lại thành từng khối cô đơn cao ngạo, đẹp lạnh lùng và sắc cạnh như hàng tượng đá khắc nổi trên cổng trường. Tôi vốn chẳng phải mủ mỉ gì cho lắm mà sao buổi sáng hôm đó tự dưng trong lòng tôi dấy lên một niềm ân hận đâu đâu như chính tay vừa làm vỡ một chậu pha lê trong suốt. Mặc cho đám bạn bè ở đó la hét, tôi bỏ ra về đi dọc theo bờ sông Cái thấy nước chảy phăng phăng cuốn bọt bèo trôi theo trối chết, nghĩ tới sức mạnh mù quáng của đám đông mà sợ. Kể từ đó nhà trường mất đi nhiều lắm cái vẻ uy nghiêm phải có. Còn ngoài đời cũng vậy thôi, được trớn làm càng, xã hội miền Nam bị quậy tới nát nhừ mà lại lợn cợn như nồi cháo lòng. Chính trường thay tuồng đổi lớp còn lẹ hơn sân khấu về khuya. Cứ vài ba tháng là ông tướng này nổi hứng dàn binh làm đảo chánh, một hai tháng sau ông tướng khác đổi ý dẫn quân làm chỉnh lý, rồi mấy tháng sau nữa ông tướng nọ giận dỗi kéo lính đi biểu dương lực lượng. Mấy ông tín đồ bác ái thì mất thế co vòi thủ thân. Mấy ông đệ tử từ bi được thế nhào lên tiến nhanh tiến mạnh. Mạnh ai muốn làm gì thì làm, đến nỗi đem cả Chúa và Phật ra đường mà nạnh hẹ nhau. Tôi không theo đạo nào hết mà chỉ biết thuở đó chắc Chúa và Phật buồn lắm. Ðất mẹ bấy nhậy như chiếc áo rách mà con cái cứ tiếp tục giành giựt. Mà đặc biệt là ai nấy cũng đều nhân danh quốc gia dân tộc cả. Thành ra càng lúc dân tộc càng tả tơi đến tột mức thê thảm. Kể cả phía bên kia nữa. Cũng ráng giành cho được cái mồi dân tộc mà nổi dậy phá rào, đặt mìn, ám sát, pháo kích… Lúc đầu moi đâu được mấy cây oảnh-tầm-xào với lại ngựa-trời bắn chốc chốc như chọc nhột. Rồi mỗi lúc một lớn chuyện, súng lớn súng nhỏ được anh em kết nghĩa ở ngoài nhét vô tay dân tộc để thi nhau vì dân tộc nổ ầm ĩ. Mấy ông ở ngoài Bắc thấy cái màn giả dạng đồng khởi không ăn, bèn tự dưng nhảy ra nhân danh dân tộc kéo vô đòi giải phóng dân tộc trong Nam, lợi dụng tình hình rối ren bày trận đánh phá khắp nơi cho đồng đều xương máu. Buổi đầu là du kích đánh rồi chạy. Sau đó kéo hết bầu đoàn xe tăng đại pháo, mượn thêm tay con cháu Mao-xếnh-xáng với nguyên cái khối Đông-Âu-vĩ-đại, vét cạn lán từ già trẻ sồn sồn cho đến non xèo như củ ấu xua vô Nam thề đánh giựt tới người cuối cùng – dĩ nhiên những người cuối cùng đó không có phải là mấy ông trung ương đảng và con cháu của họ đâu! Trong này để bảo vệ dân tộc có ai mà chịu, vật mình vật mẩy hô hoán lên như con gái nhà lành bị xâm phạm tiết hạnh, hè nhau thề đánh giữ cho tới giọt máu chót – mà điều để khỏi mang tiếng chơi trội cũng ráng đem giấu cho kín mấy giọt máu riêng của mình tới tận bên Tây bên Mỹ. Mấy anh bạn đồng minh mắt xanh da trắng rồi da nâu rồi củ sâm nhào vô tiếp cứu tưng bừng. Vậy là dân tộc cùng bầu bạn chia ra hai phe đánh nhau bất kể. Và kết quả là bầy con cháu của dân tộc chết có đàn có lũ. Nghĩa trang mỗi lúc một chật. Súng đạn nổ ngoài rừng núi chưa hả hơi, nổ tràn vào thành phố. Chiến tranh không còn là cái bóng đen mập mờ hù dọa nữa mà trở nên thật tới độ giáp mặt hàng phút hàng giờ. Thật như trái bom napal cháy hực cả rừng lửa. Thật như quả lựu đạn ném càng vào buổi chợ đông người. Thật như những chuyến xe cứu thương chở xác lính về phố chiều hú còi thê thiết. Càng lúc càng thật và càng gần như những vết nhăn càng ngày càng hằn sâu trên gương mặt ba má tôi…

Cao Vị Khanh
(còn tiếp)

Xem tiếp:
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2018/06/27/nghe-thay-2/