Một Thoáng Hương xưa

Trần Thị Nguyệt Mai

Related image
Sàigòn trước 1975

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa
Cho tôi về đường cũ nên thơ
(Nửa hồn thương đau –  Nhạc: Phạm Đình Chương – Ý thơ: Thanh Tâm Tuyền)

Vâng, tôi đang nhắm mắt thả hồn mình về ngày xưa yêu dấu ở Sài Gòn… Thuở mắt môi còn nồng hương sách vở. Thuở còn là cô bé nhỏ tóc bum-bê hạnh phúc bên gia đình và bạn bè yêu dấu. Làm sao mà quên được những ngày ấy… Này là khu Đa Kao, nơi nhà và trường tôi ở đó. Nơi đó, tôi có Kim Phụng, cô bạn cùng lớp, ngồi cạnh nhau, rất xinh. Hai mắt to và đen láy. Tóc dài, thắt bím. Giờ ra chơi nào chúng tôi cũng vào quán bán bánh kẹo trong trường để mua quà ăn với nhau. Phụng nói hai đứa mình thân nhau như vầy hoài nghen. Tôi sung sướng gật đầu. Giờ tan học, Phụng có mẹ đến đón về. Còn tôi, vì nhà gần nên đi bộ. (Thời đó xe cộ rất ít chứ không như bây giờ, nên học sinh tiểu học tự đi và về một mình chứ không cần có người lớn đưa đón). Từ trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng (nhìn sang bên kia đường là quán “Mì Cây Nhãn” nổi tiếng một thời) ra, tôi sẽ rẽ trái đi về hướng đường Nguyễn Phi Khanh. Đến ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Phan Thanh Giản thì dễ rồi vì có đèn giao thông. Tôi sẽ đi ngang qua rạp hát Asam, tiệm thuốc tây của dược sĩ Tống Lịch Cường, tiệm tạp hóa Mai Loan mà người chủ là bạn của bà ngoại tôi, nhà sách Chí Công. Ngang qua con đường nhỏ Huỳnh Khương Ninh, sẽ đến tiệm bánh ngọt Thanh Hương, rồi đến tiệm vàng Kim Phát, tiệm tạp hóa Chánh Long, tiệm bánh Thuận Xương… Thỉnh thoảng gặp bác Quý, bạn của mẹ tôi, đi công việc về, thế nào bác cũng bảo chú xích lô dừng lại cho tôi lên xe về nhà. Còn như không gặp bác, tôi sẽ phải băng qua ngã ba Đinh Tiên Hoàng – Hiền Vương – Nguyễn Phi Khanh. Sẽ đi ngang qua quán cà phê của cô Chi mà giờ đây tôi mới biết là một quán nổi tiếng có nhiều văn nghệ sĩ hay đến. Gần đó là văn phòng bói toán của cụ Ba La, rồi đến một tiệm bán tạp hóa. Đi một chút nữa là đến con hẻm có hai dãy nhà độ mươi – mười hai căn, mà nhà tôi ở căn cuối dãy bên phải. Đó là một cái xóm mà tình bạn bè và láng giềng rất thân thiện, hòa hợp, chẳng bao giờ nghe tiếng chửi lộn hay cãi vã. Tôi hay chơi banh đũa, nhảy dây hay nhảy cò cò với Marie, Nicole – hai chị em lai Pháp, chị Loan và Liên – con thầy Hiệu trưởng Lương Lê Đồng của trường Huỳnh Khương Ninh. Còn như chơi u và chơi trốn tìm thì có thêm hai anh em Sáng và Lợi, con của thầy cảnh sát ở xéo bên nhà. Trong xóm còn có nhà của cầu thủ Tam Lang thời còn độc thân – chú mướn nhà ở chung với ba người bạn. Cùng xóm, có một bác là bố của các anh Thụy và Tước (tôi đã quên tên bác), là họ hàng với gia đình nữ nghệ sĩ Kim Chung, nên người trong xóm thường nhờ bác mua vé giùm khi muốn đi xem cải lương. Tôi yêu những buổi trưa với những gánh hàng rong rao tiếng ngân nga: “Ai… chè đậu xanh đường cát nước dừa… hôn?”, “Ai… hột ‘dzịt’ lộn… hôn?”… Buổi tối thì có hàng mía “glassée” và mía hấp, nhưng tôi yêu thích nhất là món chè mè đen của bà Tàu già thường rao với giọng lơ lớ: “Chí… mà… phù”. Thỉnh thoảng ba chở hai chị em tôi bằng chiếc Vespa ra Sài Gòn ghé bến Bạch Đằng hóng mát, nhìn những con tàu lênh đênh trên sóng nước, rồi ghé tiệm Viễn Đông uống nước mía và ăn món phá lấu ghim tăm của ông Tàu gần đó. Còn mẹ thì cho tôi đi chợ Sài Gòn những khi cần mua sắm thêm. Thế nào mẹ cũng dắt đi ăn món suông hoặc bún thịt nướng, rồi ăn chè đậu ngự, chè khoai,… món nào cũng hấp dẫn. Tôi còn nhớ những dịp gần Tết, thường có những gian hàng khuyến mại, mà lớn và vẫn còn ăn sâu trong đầu óc của tôi hiện nay là gian hàng kem đánh răng của “anh Bảy chà” Hynos với hình ảnh của một người da đen cùng nụ cười tươi tắn khoe hàm răng trắng bóc.

Lớn lên, tôi đã biết yêu những con đường “cây dài bóng mát”, có lá me bay thơ mộng như đường Phùng Khắc Khoan, Gia Long, Nguyễn Du, Duy Tân… Những buổi cuối tuần ra Lê Lợi, áo dài tung bay trên phố, nắng vàng đượm nồng trên môi, vào nhà sách Khai Trí rất lớn với biết bao nhiêu sách vở. Bên kia đường là những quán bán sách, nhạc… mà mọi người cũng thường ghé đến. Nhớ ngôi trường Luật đường Duy Tân. Nhớ những ngày ôn bài ở nhà Lương Hương, hai đứa đói bụng xuống bếp lục cơm nguội ăn mà vẫn thấy rất ngon. Nhớ thời gian học lớp “Trung Tâm Huấn Luyện Chuyên Môn Ngân Hàng” trong trường Lê Quý Đôn, sân trường đẹp tuyệt vời với những hàng cây xanh cao. Cũng chính nơi đây, những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, bạn bè đã gặp nhau và chia sẻ về vận nước. Rồi ly tán và chẳng bao giờ còn gặp lại…

Sài Gòn của tôi êm ả và thanh bình quá. Tuy nó không có núi đồi trùng điệp lãng đãng khói sương thơ mộng như Đà Lạt, hay những bãi biển dài ngút mắt mà nước màu trong xanh như ngọc thạch quyến rũ hồn người như Phan Thiết, Nha Trang,…  mà sao đối với tôi Sài Gòn vẫn tuyệt đẹp. Hình ảnh của một cô thiếu nữ đầy sức sống. Nó là thủ đô văn hóa của Việt Nam như nhà văn Mai Thảo đã khẳng định một cách trang trọng trên tạp chí Sáng Tạo trong số đầu tiên, tháng 10 năm 1956. Và nó là chứng nhân của buổi sáng ngày 30-4-75 Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long đã uy dũng tuẫn tiết dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến. Cũng như, sau lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh, một tiểu đội nhảy dù “vẫn trật tự lầm lũi theo hàng một tiến về hướng Dinh Độc Lập… Có điều gì đó rất thiết thân và thiêng liêng ràng buộc giúp họ thắng mọi sợ hãi trong nỗi sống chết không rời” mà nhà văn Ngô Thế Vinh đã kể lại  trong cuốn Mặt Trận Ở Sài Gòn (Nxb Văn Nghệ 1996).

Tôi đã sống trong một cái tháp ngà. Tôi đã quá ích kỷ, không để ý gì đến chung quanh, đến những người lính. Nên tôi đã cảm thấy tim tôi như thắt lại, khi có dịp đọc những truyện ngắn, những bút ký… của các nhà văn Trần Hoài Thư, Phan Nhật Nam, … Những người lính phải dầm mình dưới cơn mưa lạnh đêm vọng Giáng Sinh trong truyện Nay Lát của THT, cái chết của Trung tá Nguyễn Đình Bảo – Người Ở Lại Charlie – trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” của PNN hay anh khinh binh Võ Hồng Nga, biệt danh “Trâu Điên” trong truyện Ngày Thanh Xuân của THT, và những trận đánh khốc liệt ở An Lộc, Bình Long, Cổ Thành Quảng Trị, Kỳ Sơn… đẫm biết bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt của các anh để giữ cho Sài Gòn được bình yên.

Kỳ Sơn đồi trọc chim không đậu
Đại đội đi, một nửa không về
Lớp lớp người nhào lên, ngã gục
Đạn sủi bờ sủi đá, u mê
(Kỳ Sơn – Trần Hoài Thư)

Cám ơn các anh đã cho em có dịp biết được những hy sinh gian khổ của cha anh mình trên những chiến trường miền Nam. Để chúng em và người dân miền Nam có được những ngày hạnh phúc mà mỗi lần nhớ lại ai cũng phải ngậm ngùi thương tiếc. Một chế độ tự do để sách báo và văn học nghệ thuật phát triển, người cày có ruộng, người dân có nhà. Một chế độ không đi cướp bóc nhà dân để làm tài sản của riêng cho cán bộ lãnh đạo. Không lấy phần đất ruộng thượng đẳng điền để xây dựng nhà máy. Không phá bỏ những cánh rừng bạt ngàn ở Tây Nguyên có nhiệm vụ ngăn giữ đất đai và bảo vệ môi trường. Không đem đất đai của ông cha đi bán cho “người anh em môi hở răng lạnh”. Không xóa đi những di tích lịch sử quý báu như Lăng Cha Cả (Sài Gòn) một biểu tượng của kiến trúc Á Đông xưa, hay tuyến đường xe lửa răng cưa quý hiếm đoạn Sông Pha – Đà Lạt do Công ty hỏa xa Pháp xây dựng với đầu máy mua của Thụy Sĩ và của Đức. Và còn nhiều cái không khác nữa…

Em xin được tỏ bày lòng biết ơn, dù đã rất muộn màng, đến tất cả Các Anh, những người Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa kính yêu.

Trần Thị Nguyệt Mai
tháng 4 năm 2015

(trích TQBT số 64 – tháng 5/2015)