30 Tháng Tư

Tô Thẩm Huy

 

Image result for hình ảnh vnch
Nguồn: Internet

Lịch sử đôi khi là một cuộc tái diễn tình cờ.  Năm 975, đúng một ngàn năm trước khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, một tiểu vương quốc bên bờ Trường Giang là nước Nam Đường, một trong mười nước thời Ngũ Đại-Thập Quốc đã bị xóa tên trong lịch sử.

Trong suốt 150 năm cuối của triều đại nhà Đường (618-907), bắt đầu từ cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, Trung Hoa đã triền miên lâm vào cảnh binh đao loạn lạc. Việc đất nước bị chia năm xẻ bảy, soán đoạt quyền bính, đánh chiếm lẫn nhau, cùng với sự quấy nhiễu của các binh đội ngoại xâm Hồi Hột, Thổ Phồn ở phương tây và sự nổi loạn của các phương trấn khắp nơi, đã đẩy Trung Hoa vào cảnh Ngũ Đại Thập Quốc. Thật chẳng khác gì cảnh điêu đứng của dân tộc Việt Nam trong 150 năm qua: hết ách đô hộ của thực dân Pháp, lại đến nạn xâm lăng của quân Phát Xít Nhật, rồi khi Nhật bại trận, người Pháp lại ngoan cố, tham lam, tìm cách trở lại Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đảng Cộng Sản Đông Dương bành trướng thế lực và nắm chính quyền ở miền Bắc, để phải dẫn đến hiệp định Genève, qua sự chia chác của các cường quốc, chia cắt non sông, rồi lại gây nên cuộc chính biến làm rối loạn miền Nam, khiến huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, suốt hai mươi mốt năm khổ hận ngập trời.

Ông vua cuối cùng của nước Nam Đường, trước khi bị nhà Tống cưỡng chiếm, là Lý Hậu Chủ, tức Lý Dục, một trong những nghệ sĩ tài hoa bậc nhất của Trung Hoa, đã bị trói tại kinh thành Kim Lăng (tức Nam Kinh ngày nay), đưa về giam lỏng tại Biện Kinh, rồi hai năm sau bị ép uống thuốc độc tự vẫn khi mới ở tuổi 40.  Những bài từ ông viết cách nay đã hơn nghìn năm mà vẫn hiển lộ nét tân kỳ tài hoa bay bướm, ngay cả trong những nghịch cảnh đau đớn, cùng đường nghẽn lối.  Từ, hay từ khúc là những lời viết cho những điệu nhạc quen thuộc, câu dài ngắn khác nhau tùy theo điệu nhạc, và đòi hỏi phải giữ vần thật chặt chẽ. Nội dung thường nhẹ nhàng, tha thiết tình cảm.  Bước vào thế giới của từ là bước vào thế giới của tình ca, của yêu đương nồng cháy, của nhớ thương giận hờn, của khổ đau hạnh phúc, của con người muôn thuở, ở mọi giới, mọi nơi, mọi trình độ học vấn, tri thức.  Nếu Đường thi là tiếng nói của tâm linh, thì Tống từ là lời thốt lên lúc thầm thì bên gối.

Xin mời đọc vài bài từ của Lý Dục.

Bài thứ nhất viết theo điệu Phá Trận Tử, nói lên nỗi đau đớn của kẻ tù binh trong cũi giam, nhìn hàng ngũ đối phương đang rầm rộ kéo vào dinh thất của mình mà chết lịm cõi lòng.

Nguyên tác:

Tứ thập niên lai gia quốc
Tam thiên lý địa sơn hà
Phượng các long lâu liên Tiêu Hán
Ngọc thụ quỳnh chi tác yên mộng
Kỷ tằng thức can qua

Nhất đán quy vi thần lỗ
Thẩm yêu Phan mấn tiêu ma
Tối thị thương hoàng từ miếu nhật
Giáo phường do tấu biệt ly ca
Thuỳ lệ đối cung nga

Diễn nghĩa:

Từ lập quốc đến nay đã bốn mươi năm
Đất đai sông núi những ba nghìn dặm
Gác phượng lầu rồng liền với trời sao
Cây ngọc cành quỳnh dệt mộng sương khói
Nào biết gì đến binh đao

Một sớm quay đầu làm kẻ tù đầy tôi tớ
Thân gầy guộc vô dụng, tóc bạc thui thủi
Xót xa buồn tủi ngày giã từ tông miếu
Kìa nhạc công tấu khúc nhạc chia ly
Lệ đổ, nhìn các nàng cung nga

Dịch như thế thì đánh lạc hết cả cái đẹp của từ, chỉ vót vét được chút nghĩa nguyên tác.  May mắn thay, ông bạn Vân Trình Lữ Nhạc của tôi đã phóng bút dịch bài từ ấy theo hai cách khác nhau, một theo khuôn Nho giáo cổ truyền, một hiện đại hóa theo kiểu Quốc Cộng:

Bài Một

Đã bốn chục năm nước cũ
Lại ba nghìn dặm trời xưa
Gác tía lầu son cao ngất-ngưởng
Lá ngọc cành vàng đời tận-hưởng
Sướng khổ một lần chưa
Bừng mắt thành thân tử-tội
Thái dương bạc dưới nắng trưa
Thoắt vọng tiêu-thiều dàn phụng-ngự
Ngoảnh nhìn Thái Miếu đàn cung-nữ
Sinh tử một lần đưa

Bài Hai

Sử-sách nghìn năm trên giấy
Nước non muôn dặm trong phim
Hai chữ ‘tử’, ‘sinh’ đời bạc tóc
Cánh quạt trực thăng bay khỏi nóc
Kêu khóc một đàn chim
Ở lại từng thằng từng đứa
Nhân dân đập cửa đến tìm
Giữa óc giữa tim cờ ba sọc
Chìm trong biển máu vàng sao mọc
Không khóc gã ngồi im

Quý độc giả nào chưa quen đọc từ xin thư thả đọc lại nguyên tác đôi ba lần, hoặc nếu có thể, thuộc lòng một đoạn của điệu Phá Trận Tử, chỉ mỗi năm câu.  Cái đẹp của từ, vì là lời viết cho một bài hát, là ở giai điệu, ở chỗ gieo vần.  Cần phải quen thuộc với giai điệu ấy như quen thuộc với một ca khúc của Trịnh Công Sơn.  Sau đó xin đọc lại bản dịch.  Lúc ấy mới thấy cái mầu nhiệm của từ và cái tài hoa của người dịch trong việc chọn chữ gieo vần.

Sau đây là một bài từ khác của Lý Dục, nổi tiếng là một trong những bài từ hay nhất Trung Hoa, viết theo điệu Tương Kiến Hoan.

Nguyên tác

Vô ngôn độc thướng tây lâu
Nguyệt như câu
Tịch mịch ngô đồng thâm viện tỏa thanh thâu
(thu)
Tiễn bất đoạn
Lý hoàn loạn
Thị ly sầu
Biệt thị nhất ban từ vị tại tâm đầu

Dịch nghĩa

Một mình lên lầu tây đứng im không nói
Trăng như lưỡi câu
Khoảnh sân ngô đồng hun hút tĩnh mịch phong kín mảnh trời thu trong vắt
Cắt không đứt
Xếp càng hỗn loạn
Sầu biệt ly là thế
Cái vị chan chát là lạ ở đầu tâm tư

Và xin mời thưởng thức hai bản dịch sau đây cũng của Vân Trình Lữ Nhạc, một theo cách Thanh Quan hoài cổ, một như lời người tù cải tạo 1975, ngồi nhìn mảnh trăng lặng lẽ giữa núi rừng:

Bài một:

Một mình lặng đứng lầu tây
Dáng nguyệt gầy
Tịch mịch ngô đồng sân vắng lá rụng đầy
Đứt lại nối
Gỡ càng rối
Mối hận này
Mằn mặn chát chua thớ lưỡi vị nồng cay

Bài hai:

Lọt vào cặp mắt cũ mòn
Mảnh trăng non
Chiếc lá cuối cùng về cội biết chăng còn
Nghẽn lệ khóc
Nghe rễ tóc
Mọc trong hồn
Thế chỗ đâu rồi mảng óc đã vùi chôn

Hai bản dịch trên thật là lời nối lời, chữ tiếp chữ, vần đáp vần, giữ nguyên nhạc điệu của nguyên tác, lại long lanh nỗi ngậm ngùi hiu hắt.  Đọc xong muốn khóc mà khóc không được.

Bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ cái ngày bể dâu 30 tháng 4 ấy.  Có triều đại nào, có chủ thuyết nào, có đảng phái nào tồn tại mãi đâu.  Cái còn lại là con người, là sông, là núi.  Quốc phá sơn hà tại, thành xuân thảo mộc thâm.  Lời Đỗ Phủ vẫn vang vọng từ cõi trời Đường thi nghìn năm trước.  Nhà nước có thể mất, chế độ có thể sụp đổ, nhưng non sông vẫn còn đó, cây cỏ vẫn còn đó.  Nhà Trần, hay nhà Lê, hay nhà Nguyễn ? Quốc Gia, hay Cộng Sản, hay Tư bản ? Điều ấy liệu có quan trọng bằng sự an cư lạc nghiệp của người dân ?  Hay điều quan trọng hơn cả là con người sống trên mảnh đất ấy có được cơm no áo ấm, có được đối xử công bằng, có được tôn trọng nhân phẩm, có được hành xử tự do?

Liệu đến bao giờ những người cầm quyền ở Hà Nội mới hiểu được điều ấy?  Hay họ đã thừa biết?  Lòng tham của con người, ai biết đâu là đáy!

Xin mượn hai câu thơ của Bùi Giáng, đẩy nó về một ngã ba khác của thân phận giống nòi, mà tạm kết bài này ở đây:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.

Houston, Tiết Thanh Minh, Ất Dậu
Đàn Bách Kiếm
(Trích Văn Học, số tháng 4, 2005)

Tô Thẩm Huy (Viết ngắn lại, Thanh Minh, Mậu Tuất)