Lãng Đãng Chiều Tháng Tư

Thái Lý

Related image
Một số tựa sách xuất bản tại miền Nam trước 1975 – Nguồn: Internet

Thời gian trôi qua quá nhanh, nhìn lại mới giật mình vì đã hơn nửa quãng đường U60, nói như cụ Vương Hồng Sển (người mê đọc sách hơn mê vợ, như ông từng tự bạch), cũng đã “hơn nửa đời hư”. Suy nghĩ vẩn vơ, chợt nhớ mình đã cắm rễ Châu Đốc hơn ba chục năm rồi. Định viết một bài về Châu Đốc với quá nhiều kỷ niệm vui buồn nhưng ý tứ cứ lan man, không biết bắt đầu từ đâu, cảm giác như còn mắc nợ. Lại lần mò lên mạng, vào trang nhà Thất Sơn Châu Đốc mới thấy hơn 2 năm rồi chưa viết được bài nào gửi đăng. Lười viết đã đành, đọc sách cũng không nhiều như trước, phần nhiều là đọc trên mạng. Biết trang Thất Sơn Châu Đốc thấm thoát đã 8 năm, cũng nhờ trang này, tôi có điều kiện “giao lưu văn nghệ” và tìm lại hương vị văn chương của ngày xưa.

Còn nhớ năm 1983, rời ghế nhà trường, vác ba lô con cóc qua Châu Đốc nhận nhiệm sở. Trụ sở cơ quan, trước 1975 là Ty Lâm nghiệp tỉnh Châu Đốc, căn nhà xây dựng hồi trào Tây, chỉ cách nhà lồng chợ vài bước chân. Tôi ở tập thể cơ quan, chỉ cách nhà vợ chồng Cô Đỗ Binh và Thầy (nhà văn Hoài Ziang Duy) vài bước chân. Nhà cô Binh còn lưu giữ sách vở xưa khá nhiều. Lúc cô còn ở Việt Nam, tôi thường đến nhà cô mượn sách, nào là sách dịch AQ chính truyện (Lỗ Tấn), Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà Paris (Victor Hugo), Của Chuột và Người (John Steinbeck), tùy bút Vang Bóng Một Thời (Nguyễn Tuân)… Nhờ những quyển sách này, tôi lấp được những khoảng trống của những ngày đầu đi làm việc, còn độc thân, chưa vợ.

Trước 1975, nhà tôi có một tủ sách cũng thuộc loại khá, về thể loại có: truyện ngắn (nhiều tác giả), truyện dài (Khái Hưng, Thạch Lam, Duyên Anh, Dung Sài Gòn, Nhã Ca, Từ  Kế Tường…), sách học làm người (như sách dịch của Nguyễn Hiến Lê), tuyển tập thơ (Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Trần Dạ Từ…), tạp chí (Văn, Tuổi Ngọc, Kiến thức phổ thông…), sách Tuổi hoa (hoa xanh là tình cảm nhẹ nhàng, hoa đỏ là phiêu lưu mạo hiểm, hoa tím dành cho tuổi mới lớn), sách dịch từ các tác phẩm nổi tiếng của Alexandre Dumas (Ba chàng ngự lâm quân, Tử tước Bá Ghi Luân…), truyện phóng tác từ tiểu thuyết trinh thám điệp viên 007 (James Bond) của nhà văn Hoàng Hải Thủy (Bỏ Súng Bên Trời…), kể cả sách tử vi của chiêm tinh gia Huỳnh Liên… Sau 1975, ba tôi cứ nơp nớp lo sợ, lỡ có ai xét nhà thì chết. “Chiến dịch” tiêu hủy tàn tích văn hóa phẩm “Mỹ Ngụy” được mấy chị em trong nhà đề ra và thực thi tức khắc. Sách được cho vào thùng giấy, thùng phuy, đem lên gian bếp trên sân thượng để nhúm lửa, nấu nước thay củi, làm giấy toillete, gói đồ… Tôi có dịp vừa nấu cơm, vừa… đọc sách cho đỡ buồn. Vì thời bao cấp khổ quá, một số sách về sau được cân ký cho mấy người bán tạp hóa ngoài chợ, để gói hàng, gói xôi, gói bánh. Một số truyện hay, tôi dành tặng cho mấy cô bạn gái học chung hồi phổ thông.

Nhớ lại tủ sách gia đình ngày xưa, mới thấy cái nhìn phóng khoáng, tự do sáng tác văn học nghệ thuật của thế hệ cha anh đi trước. Có lẽ, nhờ những quyển sách vừa đọc vừa nấu cơm ngày ấy mà “kiến thức văn chương” của tôi được nâng lên. Về thơ, tôi thích nhứt mấy bài thơ ngũ ngôn, có bài “Mùa Ngô Cũ” của Trần Dạ Từ, rất dễ thương, liền chép tặng cô bạn đồng nghiệp mà tôi từng để ý hồi còn làm ở Đài truyền thanh Hợp tác xã nông nghiệp Long Thạnh Tân Châu (khổ nỗi cô này lại yêu nhạc hơn thơ), đến giờ vẫn còn nhớ mấy đoạn hay:

Đuổi bắt trên đồi cao
Trời mưa dầm gió rét
hai đứa níu kéo nhau
Té lăn cù tưởng chết

Tỉnh dậy dưới chân đồi
Ruộng ngô ai ngào ngạt
Chạy khắp ruộng tìm coi
Nào ngờ em trốn mất…

Hạt ngô thơm mùi sữa
nở đều như răng em
Ta ghé môi cắn vỡ
Ăn mãi chưa đã thèm 

Lời muốn nói yêu em
Như than hồng trong miệng
Nhai dập nghìn hạt mềm
Vẫn cất không thành tiếng…

Tháng Ba ngô kết trái
Một mình ta buồn thay
Ruộng ngô vàng vẫn đấy
Nhưng bẻ về với ai 

Về với ai giờ nữa
Một mình ta ngẩn ngơ
Nghe hạt ngô đầu mùa
Vỡ trong răng nức nở

Một lần tôi vớ được quyển “Yêu” của Chu Tử, đọc ngấu nghiến, bị bà chị phát hiện thu hồi và giấu kín, tôi bị chị la: “Con nít bày đặt đọc chuyện người lớn” làm tôi phát tức. Tôi quyết chí… lục lọi tìm cho được, cuối cùng cũng đọc được đoạn kết những mối tình của bốn cô con gái con ông Thúc, một giáo sư triết học. Trong đó, “ám ảnh” nhất là tình cảm thầy giáo Đạt và “cháu” Diễm.

Nói về cái thú đọc sách, trong Lời tựa quyển hồi ký “Hơn Nửa Đời Hư” (Nhà xuất bản Trẻ – 3/2017), cụ Vương Hồng Sển đã diễn tả “lối đọc” của mình rất dí dỏm và hình tượng: “Cách tôi đọc có khi thì chậm rãi, không tiếc thì giờ bỏ ra cho sách, khi khác tôi đọc ngấu nghiến còn hơn bồ câu ra ràng nuốt mồi không kịp đút, nói tục mà nghe, y như chó gặm xương, như mèo mới sanh được mẹ nhường mồi dạy ăn, vừa ngừ nghè sợ mất mồi vừa gầm gừ tiếng rên nho nhỏ vì khoái trá và vì sợ miếng ngon chóng hết…”. Đọc sách mà ví như bồ câu ra ràng nuốt mồi, như chó gặm xương, đủ biết cụ Vương mê sách đến nhường nào.

Năm 2017 với nhiều niềm vui hội ngộ, Cậu Bảy (nhà văn Vũ Thất, tác giả Đời Thủy Thủ) cùng Mợ và gia đình em Thùy về Việt Nam. Gia đình chú Hai Trầu-Lương Thư Trung, rồi Cô Lộc Tưởng, tác giả tập bút ký “Vàm Kinh Cũ” cùng phu quân về Việt Nam, cũng nhín thời giờ quý báu qua Châu Đốc ghé thăm. Nhớ lại lúc qua Mỹ năm 2014, lên kế hoạch đi Boston chơi thăm gia đình Cô Lộc Tưởng nhưng đành lỗi hẹn vì thời gian không cho phép. Về lại Hoa Kỳ, chú Hai Trầu – Lương Thư Trung gửi tặng bộ sách Người đọc và người viết (NĐVNV) mới thấy tình cảm Chú dành cho mình quá lớn. Tính ra sách được Chú tặng khá nhiều, Mùa màng ngày cũ (2011 và tái bản 2015), Bến bờ còn lại, Nhớ về những bến sông, Một chút tình quê, Lá Thư từ Kinh Xáng, 14 tác giả mỗi người mỗi vẻ, coi như thành một bộ sưu tập của “Người đọc và viết” Lương Thư Trung. Nhớ lần ghé thăm gia đình Chú ở Houston ngay mùa World cup, cùng Chú chụp ảnh bên mảnh vườn con sau nhà như một góc quê hương “mùa màng ngày cũ”, một kỷ niệm khó quên.

Rồi một hôm, bưu điện chuyển giao tập truyện ngắn Song ngữ bỏ túi “Thằng Mập” của chú Hai Chung An Phú (nhà văn Khiêm Cung). Còn nhớ trước khi tái bản “Thằng Mập”, Chú Hai Chung nhờ tìm giúp vài tấm ảnh về đồng quê miền Tây Nam phần để Chú làm bìa. Tấm ảnh 3 thằng nhóc con trên cánh đồng ngập nước đầy bông súng đã được Chú chọn làm bìa sau, thật đẹp và đúng chất miền Tây Nam Việt. Khi gửi sách Chú còn gửi mail dặn dò chu đáo: “Cháu Thái, hỏi giùm Đăng Nguyên (tác giả ảnh) có dịp nào gặp lại 3 cháu trong hình bìa sau cuốn sách hay không. Nếu có, chú sẽ gởi tặng mấy cháu đó, mỗi đứa 1 cuốn, chắc chúng nó vui lắm đó…”. Hy vọng sẽ tìm lại được 3 đứa nhỏ trong ảnh để trao món quà bất ngờ này của một người viết đang ở rất xa nhưng luôn nhớ về quê hương, xứ sở. Chú Hai Trầu đã viết sau khi đọc Thằng Mập: “Với 19 chủ đề vừa kể, tác giả lần lượt vẽ lại bức tranh quê vô cùng linh hoạt với cách hành văn vừa ngắn gọn mà rõ ràng, bình dị nhưng súc tích giúp người lớn tuổi nếu có dịp được đọc sẽ không khỏi bồi hồi nhớ về những ngày thơ ấu của mình nơi một làng quê nào đó thuộc vùng sông nước miền Tây Nam Việt một thời… Và giúp các thế hệ trẻ sau này có dịp đọc được sẽ biết thêm về các chú các bác lớn tuổi ngày xưa họ có một thời ấu thơ ở nhà quê, vô cùng quê mùa và chơn chất như thế” (1). Đúng là tụi nhỏ ngày nay không thể nào tìm lại được những hình ảnh tuyệt đẹp của thời xa xưa đó.

Về chuyện tặng sách, không có gì sung sướng hơn khi chính tác giả đề tặng cho mình đứa con tinh thần mang nặng đẻ đau. Đó là sự tôn trọng, tin tưởng của của tặng đối với cái “sở đọc”, sự am tường của người được tặng. Có lẽ chẳng ai muốn tặng sách cho một người mà không biết liệu người ấy có đọc không? Có cô bạn thân học cùng lớp ngày xưa, trong một lần gặp lại đã tặng tôi 2 tập thơ “Nếu đời không có em”“T.T.K.H ấy là tôi” của ông xã là nhà thơ Bác sĩ Lê Trọng Kim, quê gốc ở Núi Sam Châu Đốc (người đã… mát tay điều trị cho tôi khỏi bịnh viêm gan cấp cách nay đã mấy chục năm ở Tân Châu, không ngờ anh làm thơ cũng hay như trị bịnh), chắc hẳn cô bạn đã “mách” tôi cũng thích thơ nên anh mới tặng, thật quý biết bao tấm tình của “người viết”.

Nói về chuyện “đọc-viết”, ở góc độ “Người viết” mới thấy, để ra đời đứa con tinh thần của mình không hề đơn giản, từ nội dung đến hình thức. Còn nhớ  tập truyện ký Vàm Kinh Cũ, Cô Lộc Tưởng lo về nội dung đã đành, trình bày bìa cũng phải đắn đo, lấy ảnh nào cho phù hợp với nội dung? Mấy tấm ảnh chụp mùa thu bên hồ ở Boston tuyệt đẹp được đưa ra để chọn, nhưng cuối cùng tấm ảnh chụp vàm kinh Vĩnh An (thời nay) nhìn về phía Cồn Tiên, Châu Đốc, Núi Sam được lấy làm bìa sách (rất tiếc tìm ảnh xưa không có). Lòng chợt thấy vui vì mình cũng góp phần nhỏ bé làm nên cái… bìa sách. Chú Hai Trầu cũng vậy, các bài viết trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc đều được minh họa bằng hình ảnh gửi từ quê nhà, đã được lựa chọn tỉ mỉ, sát hợp với bài viết. Đúng là nghề chơi cũng lắm công phu, nó thể hiện cái tâm của “Người viết”, chỉ mong sao “Người đọc” cảm nhận được hết cái mình viết, không bị vướng những hạt sạn về nội dung và cách trình bày.

Đọc “Người đọc và người viết” mới thấy, viết đã khó, đọc và cảm nhận được nội dung, ý tứ người viết, để rồi “viết lại” cho “người khác đọc” là việc không hề dễ dàng. Vậy mà Chú Hai Trầu cứ như là người “đọc sách giùm bạn”. Tôi có tật đọc rất nhanh, nhất là sách tiểu thuyết, nhưng với quyển NĐVNV buộc tôi phải đọc chậm vì những trích đoạn thơ văn đều rất chọn lọc và những lời bình như nhìn thấy “nỗi lòng” tác giả. Có nhiều nhà văn, nhà thơ trong nước và hải ngoại tôi mới biết qua các bài viết của Chú Hai Trầu. Nói về thể loại văn chương tiểu thuyết, Chú Hai Trầu có nhận xét khó mà… cãi được, nhưng Chú vẫn khiêm tốn: “Theo cái trí ngu mà tôi biết được thì cái hay của tiểu thuyết, bất kể thời kỳ nào, là làm sao nó cuốn hút được người đọc từ dòng đầu tới dòng cuối. Làm được điều đó, nhà văn phải có tài viết văn, dựng chuyện đã đành, mà còn phải biết rành tâm lý nhân vật, cùng tính khí người đọc; nhất là thời buổi không còn nhiều người mê đọc sách trên giấy in như ngày nay thì cách cuốn hút người đọc trong tiểu thuyết lại càng khó vô cùng” (2). Có thể nói rằng văn hóa đọc sách in ngày nay đã bị mai một rất nhiều trong thời kỳ hỗn mang của thế giới internet và mạng xã hội, trong đó tôi cũng là một nạn nhân.

Đọc NĐVNV của Chú Hai Trầu – Lương Thư Trung tôi vỡ ra nhiều điều về cái hay của một bài thơ qua các trích đoạn được Chú chắt lọc ghi lại và nhận xét. Tuy vậy, nhận xét hay dở, khen chê, thích hay không thích một tác phẩm văn chương còn tùy thuộc tâm hồn của người đọc, như Chú đã viết: “Về phương diện người đọc, chúng tôi vừa mê thơ văn xưa mà cũng thích văn chương ngày nay miễn là nó hay. Còn hay như thế nào là tùy tâm hồn mỗi người. Nhưng có điều, chúng tôi tự khe khắc với chính mình dù đọc sách là để giải trí, một cách giải trí với cái giá không rẻ, cũng tốn nhiều thứ lắm như tiền bạc, thời giờ, không lẽ lại tìm đọc những tác phẩm không ăn nhập gì với đời mình đang sống” (3).

Qua NĐVNV như đi lạc vào thế giới thơ, lần đầu tôi mới biết nỗi lòng của Phan Xuân Sinh qua “Đứng dưới trời đổ nát”, chất liệu ca dao trong thơ Tô Thùy Yên, những mối tình buồn “Qua mấy trời sương mưa” của Hoàng Lộc, thế nào là “Lục bát Hoàng Xuân Sơn” với lối ngắt câu xuống dòng độc đáo “mang hơi thở rướn của lục bát”; hồn cố quận trong thơ của Trúc Thanh Tâm. Ấn tượng nhiều nhất trong tôi có lẽ là nhà thơ Trần Trung Đạo khi viết về mẹ và bài thơ Người lính già Việt Nam vừa mới chết trên đường phố San Jose, để rồi mong có một ngày được đọc hết quyển “Dưới bóng đa chùa Viên Giác”.

Hôm gặp Cô Lộc Tưởng ở Châu Đốc, cô có nhắc về nhà thơ đất Long Sơn, Tân Châu Nguyễn Hải Thệ. Có đọc thơ ông trên trang TSCĐ nhưng chỉ lướt qua, nay đọc cảm nhận của Chú Hai Trầu về Nguyễn Hải Thệ mới thấy đúng là… thơ. Trong bài thơ “Đem theo” đề tặng 2 người bạn Đoàn Đông-Lộc Tưởng có mấy câu kết rất hay:

Một thoáng quê nhà em trở lại Boston
Đem theo hồn tiếng gà trưa xao xác
Một chút mây trắng đỉnh Thất Sơn xanh ngắt
Một chút mai hồng lấp lánh sông xưa
Bình yên cho đôi cánh chim giang hồ…

Ranh giới giữa văn và thơ như đã tan vào nhau khi đọc “Chiều 29 tháng tư trên đường Công Lý” của Trần Doãn Nho, qua giới thiệu của Chú Hai Trầu: “là một bài ký dưới dạng một bài thơ tự do, đã vẽ lại một buổi chiều ảm đạm của Sài Gòn của 22 năm về trước, thật ngắn mà bao quát, đầy đủ” (4):

thành phố thất thần
bóng tối đến sớm
mây thấp và cửa đóng, đường run
năm giờ chiều, chiếc đồng hồ bứt rứt
tôi đi trong bóng của mình
dinh độc Lập úa
như phế tích âm thầm
góc đường Hồng thập Tự-Công Lý
toán lính nhảy dù ngồi ăn cơm
lá rơi trên tấm poncho
lá rơi trên ga-men
lá rơi thảng thốt
chiếc áo trận nhòe
ngậm ngùi lịch sử
lá rơi, rơi
mải miết như đùa
như trò chơi
như mơ như thực
cuộc phế hưng bủn rủn phận người
lính nhảy dù, người ngồi kẻ đứng
súng nghiêng
nhắm vào thành phố vô hồn
những góc đường bối rối
dấu chân chìm
đêm xuống nhanh
cho một ngày mai khác
ngày mai mặt trời vẫn sẽ lên
thành phố khép chặt
lạnh
và quên.

Ngoài những nhà văn mà tôi đã biết được Chú nhắc đến như Hà Kỳ Lam, Vũ Thất, Khiêm Cung, Ngô Thế Vinh, Trần Trung Đạo, Tô Thùy Yên, Lưu Nhơn Nghĩa, Trúc Thanh tâm… Qua giới thiệu của Chú Hai Trầu mới biết thêm Ngô Nguyên Nghiễm, nhà văn gốc TSCĐ và nhóm Khai Phá trong những năm đầu của thập niên 70; một thời của nhóm Văn học nghệ thuật liên mạng và Nhóm Ô thước của Phạm Chi Lan; rất nhiều những nhà thơ như Lâm Hảo Dũng, Trần Phù Thế, Trần Dzạ Lữ, Đức Phổ, Trần Kiêu Bạc… Thú vị nhất có lẽ là những bức thư trao đổi từ Kinh Xáng Bốn Tổng – Sài Gòn giữa Chú Hai Trầu và BS Đỗ Hồng Ngọc về nhà văn Nguyễn Hiến Lê.

Hy vọng Chú Hai Trầu-Lương Thư Trung sẽ tiếp tục cho ra mắt bạn đọc Người đọc và người viết phần III, để tôi có dịp:

“Tay không vướng chút bụi mờ
Lòng thanh thản lật từng tờ giấy ngoan
Tôi ngồi đọc sách hân hoan
Bao nhiêu ý tưởng rộn ràng vây quanh” (5)

Đúng là không có gì sảng khoái bằng đọc đúng quyển sách, trang thơ mà mình yêu thích./.

Thái Lý
Châu Đốc, những ngày cuối tháng 4/2018

 

(1) Đọc truyện “Thằng Mập” của Khiêm Cung- Dương Văn Chung/ Người đọc và người viết – Quyển I (trang 280)

(2) Thư gửi nhà văn Nam Giao nhân đọc “Vu quy”/ Người đọc và người viết-Quyển II (trang 13)

(3) Người đọc và người viết/ Người đọc và người viết-Quyển I (trang 51)

(4) Thử đọc lại vài trang sách của Trần Doãn Nho/ Người đọc và người viết-Quyển II (trang 95)

(5) Thơ Lê Minh Quốc

 

Advertisements