Thơ là gì?

Hồ Đình Nghiêm

Starry Night by Van Gogh

tranh Van Gogh

Tựa đề trên là ngắt đoạn từ câu phát biểu nổi tiếng của thi nhân Bùi Giáng: “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thi sĩ thì ta biết hắn làm thơ. Nhưng thơ là gì? Đó là điều chúng ta không tài nào hiểu được!”

Sau Bùi Giáng, có rất nhiều người lạm bàn tới thơ, nói này nói nọ nói lung tung. Theo tôi, việc duy nhất và chính đáng nhất của thi sĩ là chỉ biết một công việc: làm thơ. Một và chỉ một mà thôi. Hay hoặc dở thì đó là điều chúng ta không nên bàn cãi. Ngay tình đã có lắm người chẳng ưa thơ Bùi Giáng. Thú thật có đôi vị đã không mặn trường thi Đoạn Trường của Nguyễn Du. “Lạ tai nghe chửa biết đâu, xem tình ra cũng những màu dở dang”.

Hầu như mỗi ngày, hoặc cách khoảng đôi ba hôm, nhà thơ Trần Vấn Lệ vẫn gửi cho tôi xem những bài thơ (mới làm) ngắn dài của anh. Tôi thật cảm kích, tôi thật mặn nồng, tôi thật hoan hỉ. Thơ chở theo chút tình nhớ quê xa, nhớ người con gái qua đò tuổi 17… và tôi rưng rức theo anh, buồn vui cùng thứ tâm sự mượt mà, cô đọng. Lạ gì Huế, lạ gì Phan Thiết, lạ gì Đà Lạt? Có lạ chăng là giờ này nó đã ra “màu dở dang”. Thơ Trần Vấn Lệ rót vào tôi chút ngậm ngùi. Ngậm ngùi kiểu chi? Đó là điều tôi không tài nào giải thích! Không chắc là John Lennon nói câu này: “Hãy mở lòng ra và khép miệng lại”. Đến với âm nhạc, với hội họa, với thi ca… và có thể với người tình, chúng ta có nên mở, đóng theo cách thức đó? Còn nhớ, John Lennon là người luôn xưng tụng và cổ súy chữ Peace.

Cách đây non tuần, vô tình tôi đọc được một bài thơ hay (hay theo cảm nhận riêng tôi) của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn. Tôi mạn phép chép lại ở đây thứ chất giọng đặc thù, chữ dùng cá biệt của “Sơn Núi”, tên tuổi nổi tiếng một thời. Bài thơ mang tựa Điếu Giản Chi:

cháu mang trà xuống cụ đây
tự nhiên trong đó núi mây ướp rồi
vừa gần gũi vừa xa xôi
nhớ khi đối ẩm bồi hồi tương tri

tóc xanh đầu bạc sá gì
kẻ Nam người Bắc ừ thì bắt tay
lựu đạn lườm nguýt dao phay
chúng ta thương tiếc cái khay đựng trà”.

Hay quá! Chỉ cảm vậy thôi! (Mở lòng ra và ngậm miệng lại). Nhưng vì tò mò muốn hiểu “Điếu Giản Chi” nghĩa là gì? Tôi thử lần dấu để biết Giản Chi là bút danh của Nguyễn Hữu Văn, nhà thơ và là một dịch giả, bạn tâm giao với Nguyễn Hiến Lê, một học giả nổi tiếng. Giản Chi làm thơ đăng báo từ năm 1940 nhưng phải đến năm 1994 mới in ra tập “Tấc Lòng”. Có thể vì hai câu thơ của ông:

gió đông mơ dáng hoa đào
trà Phương Bối đậm nhớ Sao Trên Rừng

Do cớ sự đó mà chúng ta đọc được bài thơ (một điếu văn lạ lùng) của Nguyễn Đức Sơn?

Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Văn thích trà, rượu, nhạc. Ở tuổi 40, ông làm hai câu thơ nói về quãng đời phiêu bạt của mình:

Dòng đời khôn đổi làm sông rượu
Bừng giấc quan hà lại muốn say”.

Trong bài “Chiều” có bốn câu, gần như minh họa rõ cõi thơ của ông:

Lòng tôi cần lắm tịch liêu
Một hai tình bạn trong chiều nhớ thương
Khoan khoan đừng gióng sáp hường
Đêm nay nhóm lại lò hương đêm nào”.

Ông lặng lẽ qua đời tại nhà riêng ở Quận 4 Sài Gòn năm 2005, hưởng thọ 102 tuổi. Làm thơ từ 1940, lìa xa nhân thế ở 2005, in được vỏn vẹn một tác phẩm “Tấc Lòng”. Ông có từng đặt dấu hỏi: Thơ là gì? Ông có đọc bốn câu này của Nguyễn Đức Sơn:

Đời sau người có thương ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi
Đường xa xin chớ bồi hồi
Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha”.

Thơ là gì? Tôi nghĩ ba câu sau của tác giả Nguyễn Đức Sơn, vô tình biến thành một giải thích chín chắn nhất, thuyết phục nhất:

Sáng mênh mông
Ta đi thơ thẩn trong vườn hồng
Ồ bông, ồ mộng, ồ không”.

Xin được một lần tri ân các thi sĩ muôn đời cô đơn, “cần lắm tịch liêu”.

Hồ Đình Nghiêm

Advertisements