Nguyễn Du và Long Thành Cầm Giả Ca

Tô Thẩm Huy

Image result for hình ảnh người kỹ nữ đàn nguyệt
Nguồn: Internet

Thăng Long ngày Nguyễn Du trở lại không còn là Thăng Long.  Thăng Long đã mất tên, Thăng Long của ông đã chết.  Sài Gòn cũng đã mất tên,  Sài Gòn của ngày trước nay cũng không còn.  Thì?  Thì xin mời độc giả ngoảnh lại 200 năm, cùng Tiên Điền Tố Như ngậm ngùi trước cảnh đổi thay vân cẩu.

Không rõ Nguyễn Du có sinh ra ở đấy không (1765), nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì cái tên Hà Nội ngày ấy đâu đã có (1).  Cũng không rõ ngày Nguyễn Du vẫn thường nô đùa, chạy nhẩy, ngày ấy Thăng Long đã mấy phố bao phường.  Chỉ biết ông lớn lên giữa lúc loạn lạc, vận nước liên miên thay ngôi, đổi chủ.  Quyền bính ở đất Bắc hết nằm trong tay anh em họ Trịnh tranh giành ngôi chúa mà hãm hại lẫn nhau, lại rơi vào tay Nguyễn Hữu Chỉnh, rồi Vũ Văn Nhậm, xong đến Ngô Văn Sở, trước khi Quang Trung đại phá quân Thanh (1789), rồi lại vào tay Gia Long khi thống nhất đất nước năm 1802.  Thật là một thời kỳ hỗn loạn. Ngoài 20 tuổi ông đã phải lánh mình về Thái Bình quê vợ, rồi lại lui về ẩn thân ở nguyên quán Hà Tĩnh, ngày ngày làm Nam Hải Điếu Đồ, kẻ câu cá ở bể Nam, hay làm Hồng Sơn Liệp Hộ, gã thợ săn trên rặng Hồng Lĩnh.  Ông sống ẩn dật nghèo khổ, bệnh tật không tiền thuốc men, mãi đến năm 37 tuổi mới ra làm quan cho Gia Long.  Cách nay hai trăm năm (1813), ông được Gia Long cử làm chánh sứ đại diện vua nước Nam sang Trung Hoa.  Trên đường đi từ Phú Xuân đến Bắc Kinh, Nguyễn Du mới có dịp về thăm lại Thăng Long lần đầu sau hai mươi năm xa cách.  Lòng đầy cảm xúc, ông viết Long Thành Cầm Giả Ca (LTCGC).  Trước khi đọc LTCGC, tưởng nên đọc lại 2 bài Thăng Long ông viết cũng vào dịp ấy:

Chưa vào đến cố đô, từ xa ông đã lên tiếng reo mừng:  Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng, Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.  Kìa là rặng Tản Viên, nọ là giòng Lô Giang, ta sắp về, sắp thấy lại Thăng Long rồi.  Nhưng than ôi, vào đến năm cửa ô thì chỉ ngỡ ngàng, đau xót.  Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn vì muốn xóa hết dấu tích nhà Lê đã san bằng thành xưa, quách cũ (2).  Cả cái tên Thăng Long 昇 龍 là rồng hiện cũng bị cải là Thăng Long 升 隆 hưng thịnh.  Những thiên niên cự thất, nhà cửa tự nghìn năm trước, nay đã biến mất.  Thay vào đó là quan đạo, là dọc ngang đường xá.  Những cố cung, điện đài từ thời Lý Trần nay đã bị phá tan để xây tường thành mới.  Đâu là điện Trung Hòa Đại Nội ?  Đâu là nơi ngõ cũ ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn mỹ nhân, hiệp thiếu ?  Đêm nằm giữa lòng Thăng Long ông trằn trọc không sao ngủ, thao thức nhìn vầng trăng cũ soi trên bức tường thành mới lạ.  Âm nhạc ngày trước nay cũng biến mất.  Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.  Sáo đâu, dây đâu mà tiếng nghe nhốn nháo, chói cả tai thế này ?  Chả trách lúc ngồi trên chiếu tiệc ở Thăng Long, nghe lại tiếng đàn ngày trước, nghe lại giòng nhạc vàng của đại nội triều Lê, ông đã viết Long Thành Cầm Giả Ca, Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long, để ngậm ngùi cùng người ca kỹ đang bị dập vùi giữa ba đào lịch sử.

Nhưng có thật là chuyện chỉ giản dị thế không ?  Có thật chỉ là nỗi tiếc thương cho một kiếp má đào tài hoa bạc mệnh?  Hay vì đang làm quan cho Gia Long, không thể bày tỏ lòng luyến tiếc vang bóng của triều Lê ngày trước, nên Nguyễn Du đã phải mượn hình ảnh người gảy đàn ấy để khóc thương cho hồn ma bóng quế của đế kinh ngàn năm thanh lịch?  Thành quách thôi di nhân sự cải, Kỷ xứ tang điền biến thương hải.  Thành quách còn bị đổi dời, huống gì là phận người trôi dạt.  Bao nương dâu rồi cũng nhạt nhòa thành bể khơi.  Thuấn tức bách niên năng kỷ thì, Thương tâm vãng sự lệ triêm y.  Một chớp mắt, một làn hơi, một trăm năm, dài ngắn khác nhau là bao.  Những việc trôi qua làm ta đau lòng, nước mắt tuôn đẫm áo.  Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người con gái gảy đàn ấy.  Thậm chí có người lại còn trách ông vì muốn giữ thể diện của đường đường chánh sứ nên mở trừng hai mắt mà vẫn không dám nhìn mặt người xưa.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Tôi không tin là thế.  Tôi cho hiểu như thế là không phải với Nguyễn Du.  Tôi không tin là đã có gì giữa họ.  Nàng không phải là người tình cũ, không phải đơn thuần là một cầm giả, mà là cả kinh thành Thăng Long.  Trở về Thăng Long sau mấy mươi năm xa cách, mất Thăng Long như Thăng Long đã mất tên, lòng Nguyễn Du lúc bấy giờ hẳn đang dạt dào cả một trời hội cũ, chứ đâu riêng gì một bóng hồng nhan.  Thiên niên phú quý cung tranh đoạt, tảo tuế thân bằng bán tử sinh.  Nhìn cảnh vân cẩu đổi thay, do việc tranh giành quyền lực của các dòng họ, cảnh con người bị xô dập trong bão tố, cảnh những người thân cũ đã chết mất một nửa, nhớ lại những giấc mộng của một thời hùng tâm tráng trí, ông hẳn đau đớn nhìn Thăng Long của ngày xưa đã chết.  Tằng lăng trường kiếm ỷ thiên thanh, cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh tự bao giờ đã Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm, tự bao giờ đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự ? Văn tự hà tằng vi ngã dụng?  Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay chỉ làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột, day lòng.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng.  Mở trừng hai mắt cũng chẳng thấy gì ngoài trống không mộng tưởng.  Khả liên đối diện bất tương tri.  Thương thay, ta ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long, ngồi đây giữa Thăng Long mà nào Thăng Long có thấu cho lòng ta !  Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !


Chú Thích:

1- Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra Hà Nội năm 1831, 11 năm sau khi Nguyễn Du mất.

2- Năm 1805, Gia Long cho phá Hoàng Thành Thăng Long để xây lại thành mới nhỏ hơn, hình vuông, theo mô thức của Pháp. Thành mới xây xong năm 1812 một năm trước khi Nguyễn Du trở lại Thăng Long.

3- Long Thành Cầm Giả Ca là bài đầu trong tập Bắc hành Tạp Lục, gồm 131 bài thơ chữ Hán, ghi lại những nhận định trên đường đi sứ về cảnh sống cơ cực, nghèo khổ của người dân Trung Hoa, trong khi đám quan lại tham ô, ăn sung, mặc sướng. Và những lời luận công, kể tội rất xác đáng các nhân vật trong lịch sử Trung Hoa mỗi lần ông ghé thăm các di tích cũ, làm giới sĩ phu Trung Hoa phải ngả nón thán phục. Những người cầm quyền ở Hà Nội hôm nay đứng ra thương thuyết với quan lại Bắc Kinh, những người ấy có đủ sở học để làm giới quan lại Trung Hoa phải kính phục, hay chỉ làm họ xem người phương Nam là một lũ man di cần được giáo hoá?  Giới trí thức trong nước không phải là ít, nhưng vận mệnh dân tộc sao cứ mãi điêu linh, khốn khó?

4- Nguyên tác 2 bài Thăng Long

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

 

Kìa núi Tản, sông Lô, bao năm rồi vẫn không đổi khác,
Ta nay đầu đã bạc còn được thấy lại Thăng Long.
Những dinh thự tự ngàn xưa giờ đã thành đường xá!
Bức tường thành mới xây đã xóa mất cung điện cũ!
Các người đẹp quen biết ngày trước giờ đã tay bồng tay bế,
Những người bạn chơi đùa thuở nhỏ nay đã già hết cả rồi.
Đêm nay thao thức, khổ tâm không sao ngủ,
Nằm nghe tiếng sáo văng vẳng dưới trăng thanh.

Vầng trăng cũ đang soi trên bức tường thành mới.
Thăng Long, kinh đô tự bao triều trước là đây ư?
Đường xá dọc ngang bốn phía, xóa mờ dấu tích cũ,
Tiếng đàn tiếng sáo phút chốc đã nhốn nháo âm thanh xa lạ.
Phú quý tự nghìn xưa vẫn là miếng mồi giành giật nhau.
Bạn bè thuở trước nay nửa còn, nửa mất.
Việc đời chìm nổi, thở than mà làm gì.
Trên đầu ta tóc cũng đã bạc trắng hết cả rồi.

 

Long Thành Cầm Giả Ca 龍 城 琴 者 歌

Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long

Nguyễn Du tự viết lời tựa, kể lại lần gặp gỡ với người cầm giả một thời lừng danh ở kinh thành Thăng Long.

Tiểu Dẫn:

Long Thành cầm giả bất tri tính thị.  Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi cựu nhạc tử tán.  Kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao thuộc tản bộ.  Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn.  Toại xưng nhất thời tuyệt kĩ.

Dư thiếu thời tham huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch triếp tận.  Triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột, diện ao, bất thậm lệ.  Cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường.  Xước xước nhiên hữu dư vận, tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã.

Hậu sổ tải dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ.  Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ.  Kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả.  Bất phục tri vi thùy hà, duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán chất chi nhạc nhân tức kì nhân dã.  Ta hồ ! Thị nhân hà chí thử da!  Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên nhân ca dĩ thác hứng.  

Thích Nghĩa:

Người gảy đàn ở Thăng Long ấy tên họ là gì không ai rõ.  Nghe nói ngày còn nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn (đàn nguyệt) trong đội nữ nhạc của vua Lê.  Khi quân Tây Sơn dấy lên, đội nữ nhạc ấy lớp chết, lớp tiêu tán. Nàng trôi dạt đây đó, dạo đàn nơi quán chợ.  Những khúc nàng gảy vốn là nhạc trong cung vua triều trước (nhà Lê), mấy ai đã được nghe.  Quả là tiếng đàn hay nhất một thời.

Ngày còn trẻ đến kinh đô thăm người anh (Nguyễn Nễ, bấy giờ làm quan cho Tây Sơn) tôi ở trọ cạnh hồ Giám (hồ Gương), nơi quan quân Tây Sơn triệu tập mấy chục đào nương ca hát.  Trong đám ca kỹ ấy nàng nổi bật với tiếng đàn điêu luyện, đã hát hay, lại khéo pha trò, làm cử tọa say mê điên đảo, tranh nhau khen thưởng, vàng lụa chất đầy cả sân. Rượu ban đến đâu, nàng uống cạn đến đấy. Lúc ấy tôi đứng khuất đằng sau không nhìn rõ mặt nàng. Tiệc xong, gặp lại ở nhà anh tôi, thấy nàng người thấp, má bầu, trán dô, mặt gẫy, không đẹp lắm nhưng khéo trang điểm, thân hình tròn trĩnh, làn da trắng, mày thanh má thắm, lụa biếc xiêm hồng, đôi mắt đến là sắc lạnh, dễ mà ai lọt vào được. Nàng uống rượu liền tay, nói đùa khanh khách. Tại nhà anh tôi nàng say túy lúy, nằm lăn ra đất, nôn mửa đầy sân. Đám chị em có ai lắc đầu chê cười nàng cũng mặc.

Ít lâu sau đấy tôi dọn vào Nam (đến Phú Xuân, làm quan cho Gia Long). Bẵng đi mấy mươi năm, mãi đến mùa xuân năm nay trên đường phụng mệnh đi sứ sang Trung Hoa, tôi mới lại có dịp trở về Thăng Long.  Chư vị quan nhân bầy tiệc tiễn chân tại dinh Tuần Phủ, lại cho gọi cả mấy mươi ca kỹ đàn ca, múa hát. Tôi chẳng biết tên, quen mặt người nào.  Chợt ngân lên tiếng đàn ai nghe trong trẻo lạ thường, tôi giật mình nhìn lại, thấy nàng ấy mặt gầy, thân héo, đen đủi như ma, áo quần tả tơi, may bằng vải thô, lại vá nhiều mảnh trắng. Nàng ngồi lặng nơi cuối chiếu, không cười, chẳng nói. Cảnh tượng trông đến ngược đời. Tôi không chắc là ai, nhưng giọng đàn nghe quen lắm, xáo động cả tâm tư. Tiệc xong tôi hỏi thăm, thì quả đúng là người gảy đàn ngày trước. Chao ôi, người ấy sao nay lại đến nỗi thế này! Tôi đứng ngồi, cúi ngửa chẳng yên, lòng bồi hồi bao chuyện hôm nay, bao điều ngày cũ. Kiếp người dài ngắn luống trăm năm, mà vinh nhục buồn vui thật chẳng biết đâu lường. Từ biệt Thăng Long lên đường rong ruổi (đi Bắc Kinh), tôi ngậm ngùi viết mấy lời hòng gửi gắm nỗi niềm. (TTH)

Long Thành Cầm Giả Ca

Đất Thăng Long thuở ai nhan sắc,
Giọng Nguyễn cầm ngây ngất âm thanh.
Hỏi tên, đã mất tính danh,
Chỉ nghe quen gọi phong phanh nàng Cầm.
Tay lựa khúc nội âm triều cũ,
 Khắp đất trời, thiên cổ họa hai
Vi vu gió cợt rừng mai,
Sét tung bia đá, sấm ngoài động mây.

Ta thủa trẻ mộng đầy mi sáng.
Gặp một lần, Hồ Giám tiệc hoa.
Hai mươi, phong vận mượt mà,
Men đào lửng mắt, môi pha ráng hồng.
Mười ngón gọi trời trong, mây trắng,
 Đôi hạc lùa u vẳng duềnh khơi.
Nhẹ hơn thoảng tiếng mưa rơi,
Sầu hơn cố quận ngậm ngùi đường quê.
Ấy cung nhạc triều Lê, Đại Nội,
Càng nghe càng đắm đuối ngẩn ngơ.
Tây Sơn tướng sĩ say sưa,
Vàng tung như ngói, tiền mưa như bùn.
Đêm ngun ngút,
Đàn tuôn, phách hứng.
Bệ trời xuân,
Dễ xứng một ngai.
Long Thành hào khí chen vai,
Tranh nhau nửa ánh mắt ai hé cười.

Thoáng rồi đã hai mươi năm vội.
Sau Tây Sơn ta đổi vào Nam.
Thăng Long bao nả tấc gang,
Mà nay mới lại về ngang một lần.
Quan Tổng Trấn ân cần đãi tiệc,
Mặt đào nương ửng biếc bao người,
Riêng trông một ả rối bời,
Tóc hoa xô lệch, nhạt nhùi phấn son.
Thân gầy nhẽ, nhẹ buông tay vẩy,
 Vuột cung đàn, buốt nẩy hồn ta.
Dội theo năm tháng vỡ òa,
Đây trời hội cũ, bóng ma hiện về.
Đâu Hồ Giám? Lặng nghe lệ nấc.
 Phải đàn ai? Vương vất thanh âm.

Tang thương hết giã lại vần,
Lối xưa, nền cũ bao lần đục trong.
Nghiệp Tây Sơn đổ xong, tan biến,
Lạc loài rơi một phiến hồng nhan.
Trăm năm đọng giữa cung đàn,
Bóng tà cỏ áy, lệ lan bao ngần.
Ta về cũng da sần, tóc bạc,
Thì trách ai trâm lạc, gương mờ.
Mắt trừng đối mặt còn ngờ,
Biết bao chua xót cho vừa chiêm bao.
Tô Thẩm Huy

 

Nguyên tác:

Long Thành giai nhân
Tính thị bất ký thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
Giám hồ hồ biên dạ khai yến

Thử thời tam thất chính phương niên
Hồng trang yểm ái đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái tích lịch
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mĩ mĩ bất tri quyện
Tiện thị Trung Hòa Đại Nội âm
Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo 
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ Lăng thiếu niên bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân Hoạt tố Trường An vô giá bảo

Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống Thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trọng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan sấu thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn mi bất sức trang
Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu
Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi

Thành quách thôi di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên năng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà qui lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.
Nguyễn Du

 

Thích Nghĩa:

Người đẹp ở thành Thăng Long,
Họ tên chẳng ai còn nhớ,
Nàng có tài gảy đàn Nguyễn tuyệt hay (một loại đàn tương tự đàn Nguyệt).
Dân chúng trong thành vẫn lấy chữ Cầm gọi tên nàng.
Nàng học được những khúc “Cung Phụng” vốn là nhạc trong cung vua triều trước (nhà Lê).
Trên trời dưới đất thật không gì hay bằng.
Ta nhớ ngày còn trẻ đã từng gặp nàng một lần,
Tại buổi tiệc đêm bên bờ hồ Giám (tức hồ Gương, sau lưng Văn Miếu, cách hồ Gươm 2 cây số về phía Tây).
Tuổi nàng năm ấy chừng hai mươi mốt,
Khuôn mặt ánh hoa đào, điểm phấn hồng thật dễ ưa.
Má ửng đỏ men rượu, phong thái hồn nhiên đến là hay.
Đôi tay dẫn dắt năm cung nhạc thánh thót.
Dịu êm như gió sớm viếng rừng thông,
Trong suốt như đôi hạc gọi nhau nơi xa xăm,
Dữ dội như sấm sét đánh vỡ bia chữ chùa Tiến Phúc (mới khắc, chưa kịp đem đi in),
U buồn như Trang Tích lúc ốm nằm rên bằng tiếng Việt, (người nước Việt, làm quan nước Sở, nhớ nhà)
Ai nghe cũng say mê không biết mệt.
Đó chính là âm nhạc điện Trung Hòa Đại Nội. (Nhà Lê)
Chư tướng Tây Sơn ngả nghiêng ngồi đông lắm,
Đêm đã tàn cứ vui chơi không biết chán.
Bên phải bên trái đua nhau mà ném thưởng,
Tiền bạc thật coi rẻ như cỏ rả bùn đất.
Hào hoa, hứng chí hơn cả giới vương hầu,
Đám trẻ ở Ngũ Lăng thật chẳng bén gót (khu ăn chơi của con nhà giàu ở kinh thành Trường An).
Ba mươi sáu cung xuân cũng chỉ đến thế này,
Báu vật vô giá thành Trường An (chỉ Thăng Long) đúng là đây.  
Trên chiếu tiệc hôm nay, ngoảnh đầu nhìn lại đã hai mươi năm.
Sau khi Tây Sơn thua, ta dời vào Nam. (Bên kia sông Gianh, phân chia Nam Bắc thời Trịnh Nguyễn)
Thăng Long xa cách bao gang tấc mà mòn con mắt trông còn không thấy,
Nói gì đến chuyện được nghe đàn hát.
(Nay nhân đi sứ ngang đây được) Quan Tổng Trấn trọng đãi bầy tiệc vui,
Quanh chiếu thấy ngồi bao đào nương son trẻ.
Cuối chiếu lại là một ả đầu bạc đến nửa,
Mặt trơn tẻ, vẻ xa vắng, thân hình gầy nhỏ,
Mắt mũi bơ phờ không son phấn,
Ai có thể ngờ đó là người ngày xưa một thời nổi tiếng với ngón đàn hay nhất kinh thành!
Khúc đàn xưa vang lên, ta giấu đôi giòng lệ,
Lắng tai lặng nghe mà đau xót trong lòng,
Bao chuyện cũ từ hai mươi năm trước xôn xao thức dậy.
Trên chiếu tiệc bên Hồ Giám ngày xưa, ta đã một lần gặp người ấy.
Thành quách còn bị đẩy dời, huống gì là phận người trôi dạt.
Bao nương dâu rồi cũng nhạt nhoà thành bể khơi.
Sự nghiệp nhà Tây Sơn rồi cũng tan mất.
Cung nữ múa ca (nhà Lê) nay còn rơi rớt lại một người.
Một chớp mắt, một làn hơi, một trăm năm, dài ngắn khác nhau là bao?
Những việc trôi qua làm ta đau lòng, nước mắt tuôn đẫm áo.
Từ Nam về đầu ta cũng bạc trắng,
Trách sao nhan sắc ai chẳng phai tàn!
Mở trừng hai mắt, chỉ thấy trống không mộng tưởng,
Chao ôi, đối mặt mà nào có thấy ai!

Tô Thẩm Huy

Advertisements