Happy Birthday, nhà thơ Trần Vấn Lệ!

Nhà thơ Trần Vấn Lệ duyên vẽ theo yêu cầu của nguyệt mai

Nhà thơ Trần Vấn Lệ
duyên vẽ theo yêu cầu của nguyệt mai

Nguồn: Internet

Nguồn: Internet

Kính chúc Nhà Thơ Trần Vấn Lệ một sinh nhật thật vui bên gia đình, người thân và bạn bè.

 

——
LỆ

  • Hồ Đình Nghiêm

minh họa: đinhcường

Lệ là nước mắt. Chừng như ai cũng hiểu thấu.
Vậy còn ước lệ là gì? Khoan giải thích. Ước lệ khác ướt lệ (rèm mi).
Và vấn lệ? Tra hỏi giọt nước mắt? Hay giòng lệ vấn vương? Chớ cất công gạn đục khơi trong, ngoại trừ viết hoa thành Vấn Lệ, chú thích một đôi hàng về hai chữ kia chưa chắc đã thấu đáo, đã hiểu ra.

Trước đây, họa sĩ Đinh Cường làm nhiều thơ, hầu như mỗi ngày đều có đôi ba bài, anh xem đó chỉ là những đoạn ghi, kể lại những gặp gỡ, các kỷ niệm, những hồi ức. Thuật lại bao sự tình sống động vừa xẩy tới hoặc thoáng hiện trong cơn mê thiếp. Đơn giản, anh gọi công việc đó là một phương cách vận động đầu óc. Bổ sung thêm ba chữ của Bùi Giáng: “Vui thôi mà”.

Anh mất đi, tôi mon men vào trang nhà chị Nguyệt Mai (giao tình đáng mến ngày cũ, nơi sửa lỗi chính tả giúp anh) và tôi choáng trước sức sáng tác chẳng mỏi mệt của một người mang tên Vấn Lệ, họ Trần. Anh gửi thơ vào mảnh đất “xin những tình thân ái/ còn hoài như hôm nay” đều đặn, như kiểu mỗi ngày người yêu vườn tược không quên cầm bình nước tưới hoa. Cành này bông nọ thảy đều ướt át, đều tươi mươi, đều lại thần hồn để khoe sắc.

Xưa, có Đinh Cường. Nay, có Trần Vấn Lệ. Hình như mức độ “thể dục đầu óc” của nhị vị trước sau chưa ai đạt tới mức hoả hầu tựa thế. Cổ văn gọi sự tựu thành đó bằng mấy chữ: “dễ như lấy đồ trong túi”. Có dễ không? Sai lầm. Hoặc dễ theo kiểu “dễ như ăn ớt”. Tôi từng động não, từng loay hoay, từng trăn trở xuýt xoa với ớt hiểm, ớt chỉ thiên, chảy nước mắt. Ngày này qua tháng nọ, lâu rồi, cây kim trong bọc cứ không chịu ló đầu ra. Hoàn cảnh lắm! Kín cổng cao tường thay cho nhân vật được người đời gán là nàng Thơ. Thiếu căn cơ, khó vận công lên tới mười hai thành công lực? Sức nhà ngươi bao tá?

Thơ Trần Vấn Lệ có khi là áng văn xuôi mượt mà, đằm thắm một tâm sự. Tưởng tượng ra một đối tượng để nắm tay mà hàn huyên, ngôi thứ hai nọ dùng dằng chân bước, bỏ đi không đành, bởi hiểu tầm quan trọng của sự tỉ tê kia, không nghe không được mà nghe thì đâm xốn lòng. Tiến thoái lưỡng nan! Mưa rơi bất chợt, nắng chiếu vu vơ giữa hai hàng chữ của anh cũng tác thành ra thứ khí hậu riêng biệt. Ôn đới, mùa màng xanh tươi, tuyệt chẳng bắt gặp hạn hán hay triều cường nước lũ. Bảo hiền hoà cũng được. Nói mưa thuận gió hoà cũng chẳng sai. Bởi cái đẹp khó hiện diện trong cuồng nộ, trong phẫn hận, trong nặng lời, trong rối rắm ngôn ngữ. Chữ dùng của anh không cầu kỳ, thản nhiên trôi, êm ả, là con sông nước ngọt chừng không thích đổ ra xao xác vùng biển mặn. Tôi yêu chuộng âm thanh róc rách ấy nếu nhỡ phải chảy qua một địa hình xa lạ nhiều chướng ngại. Đó là câu cú thật giản dị, mộc mạc, đơn sơ nhưng tạo được nhạc tính. Ngần ấy đã đủ vậy!

Ở lãnh vực hội hoạ, những nghệ sĩ tạo hình giàu công thử nghiệm đã đúc lại một nhận định: Chừng nào bạn tiến gần tới sự đơn giản, như một chắc lọc, chừng ấy bạn nắm bắt được cái cốt lõi của nghệ thuật. Những bước khởi đầu thường hăm hở, như tâm lý của con trẻ là ham hố màu, ưa nhồi nhét lắm đường nét ngang dọc; càng đứng tuổi, càng chín chắn người ta luôn tìm cách giản lược chúng đi. Lữ hành đa phần đều ưa nhẹ gánh hành trang trong cuộc tìm về đích tới. Một lá thư dài bốn năm trang viết cho người tình chưa chắc đã gây tác động bằng lá thư mỏng cô lại nỗi nhớ thương. Thơ Trần Vấn Lệ là tờ giấy xanh tựa thế, chẳng nhiều lời. Tựa một bức ảnh, và ảnh đã nói hơn vạn điều.

Thời gian gần đây tôi đọc được hai bài thơ hay: “Năm Ngoái Tôi Về” và “Bốn Mươi Hai Năm Biền Biệt”. Bài “Một Thời Mãi Mãi” cũng vậy, nghe rung động. Bài “Một Thời Mình Không Đi Sang Sông”. Rồi đến “Trăng Đêm Nay Chờ Trăng Mai Mốt”:

Trăng đêm nay đã tròn chưa em nhỉ?
Chắc chưa tròn vì mới tối mười hai…
Ba ngày nữa thì trăng Rằm em nhé
Mình ở bên nhau còn chỉ một ngày!

Nói ngày mai nghe sao buồn quá vậy?
Có ngày mai nào đã chẳng hôm nay
Trăng không tròn thì gọi là trăng khuyết
Tình rất tròn sao lại phải chia tay?

Mấy mươi năm anh mới về cố quận
Cảm ơn em không là cố nhân
Chỉ bến đò ngày xưa là cổ độ
Cảm ơn vườn còn nở hoa Xuân!

Cảm ơn gì nữa… nói đi cho hết
Cảm ơn mình đầu tóc bạc hay sao?
Cây cổ thụ ngàn năm không chết
Tình ngàn năm cũng thế, giấc chiêm bao!

Trăng đêm nay chờ trăng mai mốt
Mai mốt anh về trăng sẽ tròn trăng
Cứ nghĩ anh còn là Tư Mã
Thì em là mãi mãi Trác Văn Quân!

Hai đứa mình ra vườn một chút
Anh hái cho em hạt ngọc sương nha!
Anh nâng niu trái tim em ngà ngọc
Sáng mãi lòng anh dẫu có tối trăng tà…

Giản dị trong phân trần, mộc mạc trong lý giải, dịu dàng trong phân bua. Đặc điểm thơ của Trần Vấn Lệ đều vậy cả. Từ tốn là chất giọng của anh, thích con chim Quyên, ưa con cá lia thia và thường trộn chút điển tích nằm lẫn trong ca dao. EM là nguyên cớ để lời thơ tìm đến, không đổi, dù em có khi là một địa danh, một bến đò, một hàng cây, một khung cảnh, một chốn cũ. Và dĩ nhiên, em còn đó là nàng thơ, là người tình duy nhất, một và chỉ một mà thôi.

Tôi thử dọ tìm trong Vuông Chiếu Luân Hoán, thấy tiểu sử và tác phẩm chỉ ghi vắn tắt (ắt hẳn còn nhiều khiếm khuyết):

Trần Vấn Lệ sinh ngày 31 tháng 5 năm 1942 tại Phan Thiết, trưởng thành tại Đà Lạt. Cựu giáo chức và Sĩ quan VNCH. Định cư ở Los Angeles từ 1989. Đã xuất bản: – Bay Về Đâu Đó Ở Quê Hương (1992)
– Hồn Tan Trong Thơ (1993)
– Nắng Rớt Vườn Xuân (1995).

Thơ anh mang nhiều cảnh sắc đặc thù của từng địa phương, từ trong nước trôi giạt sang xứ cờ Huê, nhưng “đụng” tới Huế chừng như nghe thấm cái e ấp rất sương khói của chốn cố đô toả lan, vướng lòng. Tiểu sử anh cô đọng quá, chẳng nói chi tới Huế cả. E hồ đồ rằng xứ thần kinh đã trao vào lòng anh một mối tình sâu đậm nào đó? Kể từ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, nhà thơ nào nhỡ ghé qua một lần e phải “chân đi không đành”, chảy trôi vào thơ, lắng đọng chút sầu muộn của mưa giăng mờ sông Hương, co ro và hoài cảm cuộc lữ.

Trần Vấn Lệ là tên thật mà ban đầu tôi ngỡ anh dùng bút danh. Vấn Lệ là gì, thưa nhà thơ? Thơ anh làm chỉ gây cho người đọc chút “buồn vương cây Ngô đồng”, nghe ra một lời than rất nhẹ và tôi tin chắc chẳng có ai phải lệ vấn vương hàng mi cả. Hay chữ lệ này có ý nghĩa : Phép vua thua lệ làng? Tôi chỉ có đôi hàng lẩn thẩn nói ra cảm nhận như rứa đó. Anh có là vua một cõi thì vị tình cho cái lệ của (làng) tôi không?

Hồ Đình Nghiêm
Apr. 12, 2017

 

CHÂN DUNG TRẦN VẤN LỆ

Trần Vấn Lệ par Nguyễn Quang Chơn (Aug 20, 2016)

Trần Vấn Lệ
par Nguyễn Quang Chơn (Aug 20, 2016)

Những nếp hằn
Sâu hoắm vệt thời gian?
Hay ẩn chứa
Mênh mông miền tri thức?

Những câm lặng
Lặn sâu trong khóe mắt
Mỉm miệng cười
Khinh ngạo kiếp nhân gian…

Nửa bóng tối
Nhấn chìm thời quá vãng
Nửa buồn đau
Một nửa của quê hương…

Nửa ban ngày
Một nửa để yêu thương
Yêu trọn vẹn
Dẫu kiếp người… vinh nhục!

Diễm Lệ Kiều

 

NGƯỜI TA Ở BỂN…

trần vấn lệ ổng dìa nè! minh họa đinhcường

trần vấn lệ
minh họa đinhcường

 

bạn có qua cồn Thới Sơn
người ta ở bển…

(Trần Vấn Lệ)

bạn nhắn nhờ thăm người ta ở bển
cồn Thới Sơn giữa dòng Mekong
ta lặn lội trăm lần tìm kiếm
ngược xuôi khắp ngả chằng chịt bóng dừa xanh.
sông rạch quanh co lách con thuyền nhỏ
bập bềnh sóng nước phương Nam

bạn dặn người ta mười bảy
tóc chải mượt dầu dừa
môi thơm mùi kẹo
nước da trắng muốt
nhờ tắm nước dừa xiêm
ta lang thang kiếm tìm
gặp ai cũng hỏi
những cô gái Thới Sơn
má hồng hây hẩy
lắc đầu quầy quậy
hổng quen!

cho đến một hôm trời cũng chiều lòng
có một cô răng khểnh,
bẻ gẫy sừng trâu,
rất xinh
đúng là người xưa của bạn
nàng nhìn ta đôi mắt long lanh
khi ta nhắc tên,
nàng ôm chầm lấy ta rồi kêu to
ngoại ơi ngoại ơi
trần vấn lệ
ổng dìa nè!

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 22.01.2015)

 


CẢM ĐỀ “NGƯỜI TA Ở BỂN”

Bài thơ quá dễ thương,
dễ thương quá, vì “ngoại” hông xuất hiện,
hình ảnh “ngoại” ngày xưa, cô bé răng khểnh,
môi thơm mùi kẹo, tóc mượt như mây
ríu rít nói cười: ngoại ơi, ổng dìa…
ôi,
cô bé 17 tuổi… kia ơi,
cô ở Đà Lạt,
Huế,
hay Cồn Thới Sơn?
khi cô là mưa,
khi cô là nắng,
có lúc cô là trăng,
cô là sao,
là cơn gió nhẹ,
là dòng sông, là đóa hoa đào, đầu xuân…
nhưng mãi mãi, cô vẫn 17 tuổi
và, thi sĩ muôn đời là thi sĩ,
làm thơ…
tình mười bảy.

Duyên

 

——

Ghi chú: Coi cái hình rất ngầu của nhà thơ Trần Vấn Lệ trên nguyetmai.wordpress.com tôi cao hứng nguệch ngoạc mấy nét “trời ơi”… và viết đôi dòng gởi bạn.
(Tôi và Trần Vấn Lệ… cùng học Đệ thất Phan Bội Châu, Phan Thiết, năm 1954!)

 

CHÂN DUNG BẠN TÔI

tặng trần vấn lệ

 

Trần Vấn Lệ vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, 12.2014
Trần Vấn Lệ vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, 12.2014

ta cứ ngỡ ngươi vẫn là chú bé con
chạy loăng quăng bên bờ sông mường mán
hay ít ra cũng là cậu thiếu niên
lững thững theo sau tà áo tím
tệ lắm cũng là ông thầy giáo
ngóng học trò bên dốc mờ sương
ai dè ngươi diện cặp kiếng đen
ngậm thuốc lá ngầu như anh chị bự
lởm chởm râu ria mọc rầu mọc rĩ
nhăn nheo không chừa một chỗ nào
(trên khuôn mặt đẹp trai ngày đó)
vậy mà thơ tình làm nhanh như gió
khiến bao cô nàng ray rứt khôn nguôi
anh chàng thi sĩ bạn tôi
mới có cái tên… trần vấn lệ!

đỗ hồng ngọc
(saigon 27.12.2014)

 

Trần Vấn Lệ - Đỗ Hồng Ngọc Sài Gòn - 22.3.2016

Trần Vấn Lệ – Đỗ Hồng Ngọc (Sài Gòn – 22.3.2016)

——
ĐÀ LẠT HƠI THỞ TRONG THƠ TRẦN VẤN LỆ

 

Dã quỳ Đà Lạt đinhcường

Dã quỳ Đà Lạt
đinhcường

 

Tiếng cựa mình của trang giấy” là tên một tùy bút hay như tất cả tùy bút của nhà văn Võ Phiến, đăng trong tác phẩm “Cuối cùng” xuất bản năm 2010. Mở cảm hứng cho áng văn bàn về những nỗi ám ảnh thúc đẩy người cầm bút sáng tác, ông đã viết: “Một câu thơ của ông Trần Vấn Lệ ám ảnh tôi. Ông Trần than thở: “Mỗi ngày là một ngày xưa”Từ một câu thơ của Trần Vấn Lệ, tác giả phân tích những rung động nhỏ nhẹ, những kỷ niệm, ký ức từ những hành động thoáng qua, thật mơ hồ nhưng sống mãi với thời gian trong tác phẩm của những tên tuổi lớn Nhất Linh, Edgar Poe, Gustave Flaubert… Và như thể rất tự nhiên, ông trở lại:

“Tôi lại nghĩ tới ông Trần Vấn Lệ:
Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi!
Những cây thông nói với trời điều chi?
Hồ Xuân Hương, liễu thầm thì
Phải chăng thông đã nói gì mà quên?
(‘Tôi về thăm chỗ tôi đi’)

Liễu thầm thì bảo vậy có tin được không? Thông nói rồi thông quên tuốt! Cả thông, cả liễu, cả hồ, cả Đà Lạt, cả Trời đều sống thảnh thơi, an lành, nhẹ nhõm. Ngay người đời nói chung, thỉnh thoảng có gặp điều gì — hoặc vui hoặc buồn — đem ra tỉ tê với bạn bè; rồi trải qua năm tháng biền biệt cũng có thể quên dần, có khi quên luôn. Chỉ có các tác giả là không thoát được quá khứ. Nó nằm đó, đủ bầy đủ lũ, im lặng mà chòng chọc. Nó ám ảnh đấng sinh thành không buông tha.”

Ông Võ Phiến đã nhìn thấu tâm can thi sĩ họ Trần: nỗi nhớ nơi ở trọ cái thời trai trẻ, thời tươi đẹp nhất của một đời người luôn day dứt, da diết, trăn trở  trong thơ ông như một nỗi niềm không thể nguôi quên. Trong thơ Trần Vấn Lệ, Đà Lạt không hiện ra là một quá khứ cứ “chòng chọc” vào ông, mà Đà Lạt như bầu không khí trong lành để nhà thơ hít thở mỗi ngày mà sáng tác. Thơ của ông, chính ông cũng không đếm được, hàng vạn bài, mà trong số hàng vạn đó, Đà Lạt dù có được nhắc tên hay không thì cứ vẫn hiện hữu như hơi thở mỗi ngày cho ông sống vậy.

Năm 1958, Trần Vấn Lệ rời quê hương Phan Thiết – Bình Thuận lên trọ học tại Đà Lạt, cuộc ở trọ kéo dài suốt 31 năm đã gắn bó nhà thơ với xứ sở sương mù, với những kỷ niệm một thời đẹp nhất nhưng cũng khởi đầu cho giai đoạn đau đớn nhất của đời ông. Trong hơn 18 năm làm thầy giáo tại Đà Lạt, ông từng dạy tại nhiều trường và kết thúc nghiệp dĩ  đưa đò khi đang là giáo sư Việt văn trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Khoảng thời gian gắn bó với phấn trắng, bảng đen có lẽ là thời đẹp nhất của cuộc đời ông, vì vậy mà cứ vướng víu trong thơ ông những tà áo dài trắng tinh khiết với nắng sân trường, với khoảng hành lang lộng gió của ký ức.

Một ngày ở Los Angeles: “Con chim buồn hiu không hót.  Hôm nay rét ngọt tím người.  Trời trong không có mây trôi.  Tuyết rơi.  Rơi đầy trắng ngõ…”. Trong cái rét buốt của ngày tuyết rơi trắng xóa đó, nỗi nhớ của thi nhân liền như chắp cánh, bay về nơi cách xa hơn nửa vòng trái đất: “Trời trong không có chút gió, nhớ ơi tà áo dài xưa, vàng như hoa cúc vườn trưa, vàng như ánh trăng khuya lạnh”. (Rét ngọt – TVL) Cái hay ở đây, ông không hề nhắc đến Đà Lạt, nhưng đọc lên là ta nhận ngay ra Đà Lạt đó: Đà Lạt trong cái lạnh ngọt ngào chứ không rét buốt, Đà Lạt lại còn thơ ngây với tà áo dài học trò, Đà Lạt ấm áp vàng mơ màu hoa cúc, vàng hoa dã quỳ, cả ánh trăng cũng như võ vàng trong ký ức.

Cũng trong đôi mắt ký ức đó, những em học trò hiện về trong nỗi nhớ của người thầy cũng thật khác lắm: “Đà Lạt tôi thắm thiết/ thời tôi dạy học trò/ có em thơm như ngo/ có em hiền như liễu…” (Nói trước dẫu muộn màng- TVL). Có lẽ cũng chỉ có học trò của thầy giáo – nhà thơ Trần Vấn Lệ mới có nét đặc biệt “thơm như ngo”, “hiền như liễu”. Thông với liễu ở Đà Lạt thời đó thì nhiều lắm, thành phố giữa rừng thông mà, quanh năm rì rào vi vu tiếng thông reo. Hàng liễu rũ thướt tha dọc ven hồ Xuân Hương giữa lòng thành phố, hiền dịu nghiêng nghiêng bên những ngôi biệt thự kiêu sa.  Những em học trò hồn nhiên, trong veo tiếng cười hay e ấp tuổi  mộng mơ giữa thành phố của thơ ca nhạc họa đó, khi ùa về trong ký ức của người thầy thuở nào mang mùi thơm của thông, mang sự hiền dịu của liễu. Ký ức của người thầy thật đẹp và thơ mộng, vì vậy mà dù đã không còn đứng trên bục giảng hơn 20 năm, nhà thơ trong ông liền tâm niệm: “Ngày nào còn thở nán/ gọi Đà Lạt thêm thương/ ngày nào hai tay buông/ chào bảng xanh phấn trắng!” (Nói trước dẫu muộn màng-TVL)

Cũng đất trời đó, nhà thơ Hàn Mặc Tử một lần đến để lại những câu thơ bất tử với thành phố ngàn hoa: “ Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều. Để nghe dưới đáy nước hồ reo. Để nghe tơ liễu run trong gió. Và để xem trời giải nghĩa yêu”. (Đà Lạt trăng mờ – HMT). Đã có không biết bao nhiêu người phân tích cái hay của những câu thơ này, tôi không có ý muốn lặp lại, chỉ muốn lưu ý rằng đây là rung động của một thi nhân lớn, nhưng là một khách thơ chỉ đến Đà Lạt một lần rồi đi. Còn Trần Vấn Lệ, đến với Đà Lạt lúc còn là một thư sinh, được  hương gió hồn hoa mù sương của đất trời Đà Lạt tạo tác thành cảm hứng mà cầm bút. 31 năm trưởng thành, làm việc ở Đà Lạt, ông đã là một đứa con của mảnh đất này.  Nhưng đa số sáng tác của ông được người ta biết đến khi ông đã rời quá xa một phần máu thịt của mình, nhưng vì đó là máu thịt, nên nó ám ảnh, nó “chòng chọc” vào ông thì cũng đúng thôi. Nhưng Đà Lạt trong thơ ông, trong ký ức của ông rất đỗi dịu dàng, đáng yêu, thân thiết vô cùng: “Đà Lạt, dễ thương, ngay giữa phố: có con đường nhỏ – Dốc Nhà Làng. Đường không xe cộ, người đi bộ, cấp đá, không ai bước vội vàng…

Lòng đường chỉ rộng chừng hai mét, kẻ xuống người lên giáp mặt nhau. Chưa kịp nói chi thì cũng đã / chạm tay nheo mắt thế câu chào…

Rất xưa, tôi ở trên Đà Lạt, đi trốn mù sương, len lách đây, nhẩm đếm cấp lên rồi cấp xuống, tưởng mình lơ lửng giữa tầng mây…

Đà Lạt, dễ thương, không dễ ghét / bởi người tôi gặp thuở xuân xanh / là ai, mãi mãi tôi còn nhớ… mà mãi mãi buồn khi ngó quanh!” (Kỷ niệm Đà Lạt – TVL)

A, đây rồi, không thể khác! Chàng trai xứ biển lớn lên ở xứ sở tình yêu mà không có một bóng hồng để tơ tưởng thì kể mới lạ, huống hồ chàng đã được biết bao thiếu nữ không chỉ ở Đà Lạt tự thời nào đã e ấp chép vào sổ tay câu thơ màu mực tím: “Ai bảo em sinh ra làm con gái, để tôi thề chê hết thảy giai nhân”. Và dấu chân Nàng Thơ ấy đã in trong thơ Trần Vấn Lệ cùng với Đà Lạt, Dran, đi suốt cả quãng đường thơ của ông cũng như cả cuộc đời ông. Đó là một nỗi ám ảnh khác trong thơ Trần Vấn Lệ cùng Đà Lạt-Dran:  đó là người con gái 17 tuổi bỏ học theo chồng, để lại vầng trăng mãi khuyết trong trái tim ông.

Đây, ở một “Quán cóc bên đường”: “…Đất níu chân đi, gió cản áo về, biết bao giờ  nữa?  Níu cành hoa nở, hoa quỳ dễ thương, tôi để nụ hôn, hôn ai, ai biết?  Em ơi, nói thiệt:  Nhớ Em, Anh Về.  Nhớ mái tóc thề, chiều xanh tuổi xanh…” (Quán cóc bên đường-TVL).

Rồi giữa một Đêm Đông: “Bây giờ mà Đơn Dương, anh lên đèo Ngoạn Mục, ngồi nhìn con trăng khóc bên góc trời biển xa… Ở đó tuyết bay qua, tóc em buồn ai chải?  Ai biểu em con gái… mười bảy tuổi, ngày xưa! Mười bảy tuổi ai đưa em qua bờ bến lạ?  Kìa, cây xanh còn lá, đa đa vỗ cánh bay…” (Đêm đông- TVL)

Trong một “Sáng hôm nay  lạnh quá”: “Em ơi em nhiều năm anh nhớ áo dài em bay trắng sân trường.  Em dễ thương như bà Bùi Thị Xuân đưa tay phất bầy voi rạp xuống.  Em đưa tay phất tà áo dài bay lượn, anh mơ hồ tưởng bụi phấn bay lên… Hoa quỳ nở vì em.  Đà Lạt mình đẹp chi đẹp lạ!  Trước cổng nhà đường Hai Bà Trưng em vòng tay chào Ba chào Mạ.  Em không chào anh.  Anh không ở đó.  Em đi…”

Và “Tuổi cố nhân: “Em ơi em à trăng đêm Rằm, hôm nay tuổi Chúa mấy ngàn năm, tuổi em chắc cũng ngàn năm nhỉ?  Ôi tuổi Tình Yêu tuổi Cố Nhân!”

Vậy đó, người bạn học 17 tuổi bước xuống đò ngang từ thuở nào, nhưng đôi chân nàng đã đi theo nhà thơ suốt cả đời. Có thể trong đời Trần Vấn Lệ, đã hiện hữu thêm những người phụ nữ ông quen, nhưng ông cũng chỉ theo đôi chân người đó để tràn về miền hổi tưởng cùng người con gái mãi tuổi thanh xuân ấy, với đôi má hồng, với mái tóc thề muôn thuở. Chính vì vậy mà khách tri âm thơ Trần Vấn Lệ cứ thấy thơ ông trẻ mãi với thời gian. Thơ trẻ, người cũng trẻ chăng? Có ai đi ngược được với quy luật của Tạo hóa đâu? Nhưng giữ được một tâm hồn mãi trẻ với thời gian, để cho đời những vần thơ ướp mật, dù mật có lúc không ngọt, như pha chút vị đắng cay man mác một nỗi buồn, buồn nỗi quê hương dâu bể, buồn nỗi lòng người đổi thay: “Tôi nhớ quá đi Đà Lạt hình như sóng gợn… Đâu nữa những rừng thông bạt ngàn? Tại sao tôi cứ là thằng bé lang thang. Mà không bao giờ là một Hoàng Tử Bé? (Đó là Đà Lạt hay sao? – TVL)

Hơn 30 năm ở, cũng gần bằng chừng ấy năm xa, mỗi ngày ông vẫn ràn rụa trông về miền đất sương khói ấy. Mỗi ngày một bài thơ, ông gửi về Đà Lạt nỗi niềm hoài niệm, luyến nhớ. Đà Lạt xa xôi, nhưng đó là bầu không khí để thi sĩ họ Trần thở hít mỗi ngày, nên thơ ông mang nặng hồn Đà Lạt.  Ông giải thích cho ông, cũng để giải thích với mọi người: “ Tôi đang nhớ Giang Sơn Cẩm Tú. Phải chi còn học trò tôi giảng cho các em nghe. Tại sao con người có một cảnh Quê, có một nơi gọi là Nơi-Chôn-Nhau-Cắt-Rốn. Không có ai bên, tôi nói với người-trong-mộng.” (Đà Lạt mùa hoa quỳ- TVL)

Diễm Lệ Kiều

Advertisements