Trang Phượng Thắm

Hồ Đình Nghiêm

Image result for tranh thiếu nữ
Nguồn: Internet

 

Họ hẹn gặp trong một quán ăn ở Nam Cali, không mưa lũ như phía Bắc từng hứng chịu. Tất cả là chín người. Chín người vượt biển, đứa vượt trời, đường đi muôn lối. Phải sáu mươi ba năm mới được thấy nhau, bạn bè tả tơi, thương quá… Tóc đã bạc, thì cũng phải, đâu còn như thuở đầu xanh, 63 năm nghe tàn phai tuổi chiều bóng xế. Họ ăn ít, chỉ bận nhìn ngó nhau qua đôi mắt có nhiều vết chân chim. Nhắc chuyện cũ, ừ, sao hồi đó tụi mình cứ ưa giận hờn! Có bạn nhận xét: Lệ nói như thơ! Thơ ra sao: “Phượng à hoa nở vì em”. Phượng là Kim Phượng hay Thúy Phượng? Phan Thiết có trường Phan Bội Châu. Từ 1954 đến 1958 vẫn còn đó, trên mặt Phượng mấy sợi tóc vương…

Bức tranh ở trên được vẽ ra bởi một người có ký ức thật tốt: Trần Vấn Lệ. Mừng vui thay, anh còn tới những tám người bạn vụng dại thuở ấu thời đang kề cận mà kẻ khác, hậu sinh như tôi, chưa bao giờ đếm đủ. Nằm mộng cũng hao hụt loe ngoe ra một hai. Tôi lẻ loi, tôi buồn, tôi ganh tị. Làm sao đọc thông cái phân giải của ai kia: “Tình bạn, nó không là thứ gì lớn lao cả, nó chỉ gom một triệu điều bé nhỏ để gầy dựng nên”. Về già, người ta vui với bạn hiền, cười đùa với cháu bé bỏng (một ngày sao chóng thế!).

Ở trên có nhắc tới Lệ nhân vật nam. Có nói tới Phượng nhân vật nữ, khiến dẫn trí nhớ tôi về bốn câu thơ của Bùi Giáng:

“Em có khóc? Ta xin em đừng khóc
Em nhìn ta? Lệ chảy có vui gì
Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc
Nước xuôi dòng ngàn thu hận tan đi”.

Hẳn các bạn từng đọc qua một trang phượng, ít nhất một lần trong đời. Trang phượng ấy nhằm dẫn chứng chữ lệ không nên hiểu là nước mắt (nào có vui gì!). Lệ này là Hoa Lệ, Lệ kia là Mỹ Lệ, thậm chí là Cẩm Lệ (địa danh nằm sát vòng đai thành phố Đà Nẵng, nổi tiếng món thuốc lá vấn mà Mạ tôi ưa hút).

Vậy thì với tôi, Trần Vấn Lệ là “trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc”. Tôi đọc và nhìn ra đầy đủ tấm lòng nhân ái anh bày chật giữa những dòng thơ luân lưu chảy một điệp khúc êm ả: Tình Người. Tôi cảm ơn sự lạc quan anh mang đến trao trong khi người làm thơ khác vẫn còn giấu ở đó bao bất bình, bao phẫn hận chưa nguôi.

Thơ Trần Vấn Lệ luôn loay hoay với vấn nạn tình yêu, cách anh gỡ rối gần biến thành một thứ triết lý riêng anh tạo dựng. Trong “Làm Xong Một Bài Thơ” có nhiều câu “tới”:

Làm xong bài thơ, chắc tôi bơ phờ? Có người vuốt tóc, một giọt nước mắt rớt trên tóc tôi… Tóc bạc hết rồi, không ngó lên nữa. Người đó ra cửa. Bài thơ tôi theo…

Tôi biết tình yêu không già như tóc… nhưng mà hạnh phúc thì… bạc như mây.

Tôi thích chữ đặng trong câu ca dao, “lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm”. Ngàn năm bao lăm khi người ta bước xuống một bến nước, xuống đò sang sông?

Nếu bạn không cho đó là triết lý thì có chữ khác điền thế: Vô thường. Tôi rất mến chuộng bài thơ “Đời Vô Thường” sau đây, yêu lắm:

Tôi đi về Việt Nam, mua một ký thóc, đem rải cho chim ăn… thấy mình thật hạnh phúc. Bầy chim đậu lúc nhúc, chúng giành ăn, vui ghê! Rồi hết, chúng bay đi… về đâu, tôi không biết!

Một ký thóc ít thiệt, tôi vui được hai tuần. Tôi ngắm nghía cái sân… Cái sân chừ hoang vắng. Hết mưa, đang là nắng. Cái vắng là cái buồn. Sáng sáng mờ mờ sương. Trời bốn phương tụ lại. Tôi cứ ngồi nhìn mãi cái mặt sân bao la…

Không còn thóc ném ra thì chim không còn nữa… Việt Nam tôi còn đó mà xa lắm người ơi! Tôi thật là buồn cười, thấy mình như con nít! Thích cái gì ưa thích! Có gì thích bền đâu! Ngay cặp chim bồ câu, cũng không về mái ngói…

Hình như tôi mới nói? Nói gì trong cơn mê? Nói gì hỡi nắng hoe, nói gì hỡi lá héo? Đưa tay níu nhành liễu, tôi làm nhánh liễu cong. Tôi ngó về phương Đông, quê nhà tôi ở đó. Cái vòng trời quá nhỏ, nửa vòng trời mênh mông! Tôi thèm mình là sông trôi ra ngoài biển cả, về bưng cánh đồng mạ trải như lòng tôi phơi…

Hai tuần lễ qua rồi, một ký thóc đã hết! Bao giờ thì tôi chết? Hỏi Phật, Phật không biết… chỉ biết đời Vô Thường!

Tôi xúc động, tôi tự hỏi, tôi bần thần, tôi mê mệt: Có ông Việt kiều nào lạ lùng đến thế không? Ông dắt tay tôi về, cù ra ngồi ngoài sân, trong hai tuần chỉ để cho chim ăn. Thích lắm! Vui ghê! Có thế thôi. Ngắm nghía sự hợp tan, mới tụ bầy giờ thì trống vắng. Hết mưa tới nắng. Tỉnh táo rồi mê sảng. Quá nhỏ rồi mênh mông. Buồn cười cho hạnh phúc. Rồi tự nhận mình là con nít. Lạ, con nít làm gì biết tới lẽ vô thường!

Có nhiều chữ “ông con nít” ấy dùng mà người lớn đọc phải giật mình, ví dụ chữ “bưng”: Tôi thèm mình là sông trôi ra ngoài biển cả, về bưng cánh đồng mạ trải lòng tôi phơi. “Người lớn” khác ông hẳn đã viết xuống chữ “ôm”, hoặc “quàng”, hoặc “vây”, hoặc “níu”. Hoặc này hoặc nọ chẳng sáng bằng bưng, không ví được. Ôi, ông Việt kiều nọ thật đáng yêu làm sao! Tôi ngồi bia ôm gọi vào di động ổng không bắt máy. Tôi tham quan Chú Ía, tìm lại động hoa vàng ở Lăng Cha Cả hối thúc liên hồi kỳ trận mà ổng bận ngồi cho chim ăn. Lạ đời là ông, mà vô thường cũng là ông vậy! Ông níu nhành liễu, mới hay ra nhành liễu cong là bởi tay mình. Hết thóc thì chim thôi tới, ấy là lẽ thường, sao ông nghĩ tới Việt Nam còn đó mà xa xôi? Ừ, thì chữ Vô Thường đã ẩn chứa một dấu hỏi. Triết lý là gì? Không phải nó mang đầy ngờ vực sao?

Trang phượng mở ra một bài thơ hay khác, xúc động dấy lên trong dịu dàng, vu vơ một nỗi buồn chưa tìm ra lối thoát. Và buộc tôi phải chép lại ở đây. Bài thơ mang tên “Chẳng Qua Là Cái Cớ”:

Chị tôi lấy chồng có duyên Bình Định. Anh rể tôi, lính, hết giặc về quê, Chị tôi theo về nói giọng Xứ Nẫu…

Giọng nói không xấu (không xấu bao giờ). Thăm Chị, sau tù, tôi về ghé đó. Mấy đứa cháu nhỏ nói nghe như chim, khi đục khi êm líu lo ríu rít…

Tôi rời đất nước, nay, ba mươi năm, chỉ thư về thăm chớ chưa về lại. Nhiều khi tự hỏi Chị mình ra sao, nhưng không thư nào hồi âm tôi cả…

Sáu đứa cháu đã, chắc giờ lớn khôn? Tôi nhớ dập dồn. Tôi hỏi, im lặng… Trời mưa trời nắng, tôi nghĩ thôi thì thương nhớ làm chi để nghe đứt ruột! Tôi cầm cây thước đo lòng mình đau…

Cứ sống chiêm bao, đời ta thoải mái? Chị tôi con gái lấy chồng thì quên- quên anh quên em, quên Cha quên Mẹ. Xưa nay vẫn thế, ai lấy chồng xa…

Xứ Nẫu bao la hồi tôi ghé đó. Bây giờ nó nhỏ bằng giọt lệ lăn. Tôi có cố nhân, sang ngang mười bảy, từ rời xa Huế, bây chừ biết mô? Trời mưa, đang mưa, nhớ Quy Nhơn quá, nhớ Nam Phổ lạ. Nhớ cả đèo Cả, con đường xuôi Nam, xe ngang Phan Rang vang vang tiếng Nẫu, tôi đưa tay bấu thành xe, ngẩn ngơ!

Xe lên Cà Beu, xe lên Cầu Đất, tôi nghe tức ngực: phía sau Dran! Tôi nhớ cố nhân, nghe nói về đó từ ngày áo đỏ theo chồng cao nguyên… Xe ngang Đa Nhim, một hồ nước mắt…

Bài thơ buồn thật, tôi nhớ lung tung…

Trong tất cả những bài thơ của thi nhân Trần Vấn Lệ đặc biệt anh dùng đôi câu, một khổ, một đoạn đổi sang chữ nghiêng. Và chẳng mấy khi chú thích ngày tháng bên dưới. Cũng dễ hiểu bởi tôi biết, có khi, một ngày anh làm tới năm bảy bài là chuyện thường. Mười, hai mươi, ba mươi, lẽ nào đứng chung vào một ô lịch đóng khung, giam chật?

Ở “Tôi Biết Sáng Mai Nàng Thức Giấc” có thắp sáng một hình ảnh:

“Tôi làm thơ cho em gần xong… tôi xoay lưng ngắm má em hồng… em ơi biển không bờ em thấy… thấy nhé tình yêu chẳng tận cùng…

…….

Tôi hôn chân nàng hôn ngón út… tôi gọi tên làng Út của anh… tôi biết sáng mai nàng thức giấc… mắt huyền đậu lại ngón chân xanh…”

Luôn luôn, nhập hồn vào thơ Trần Vấn Lệ, tôi thấy mình trẻ lại. Cảm giác như đang đi ngược thời gian, bởi chăng những nhân vật Nữ, những Nàng hiện diện trong thơ anh họ toàn là thiếu nữ cả, độ chừng mười sáu tới hai mươi, mà dẫu họ có là Chị, là Phu nhân, là Mẹ, là Ngoại, là Nội… thì tâm hồn họ tuồng như mới vừa va với bụi trần. Tóm gọn, họ có muốn già nhà thơ cũng chưa thuận lòng để phải lật trang đời vàng phai. “Đưa cho anh hôn cái miệng”, “kìa cái mặt không ai đánh đã sưng, cái môi chưa ai hôn đã hồng” là một ví dụ về thứ đánh cắp thời gian qua thủ pháp ân cần của nhà thơ.

Một đôi khi trang phượng có ký tên Trần Vấn Lệ chở tôi đi giật lùi về miền quá khứ, đánh động tới khung cảnh một “Vườn Xưa” của Tế Hanh (1957):

một ngày xuân em trở lại nhà
nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
em nhìn lên vòm cây gió thổi
lá như môi thầm thì gọi anh về

lần sau anh trở lại một ngày hè
nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
nước như gương soi lẻ bóng hình anh
”.

Xong lại dẫn tôi về dật dờ trước cánh cổng của Joseph Huỳnh Văn:

ai cầm dưới nguyệt ai như mây
cỏ hoa rất lệ ngát hiên tây…
ai xoã tóc xanh, ai đầm áo
nửa đêm ngất tạnh cầm buông dây
ôi nửa đêm sầu, sầu ngất tạnh
sầu như cầm, nguyệt tàn về đâu…”

Rồi khóa cứng tôi lại với hai câu của Bùi Giáng:

Lên rừng hỏi lại chóc chim
vùng sương cố quận ai tìm ở đâu”.

Trong mười hai trang lịch lớn, có một ngày tô son bằng một quả tim nhỏ. Lịch tiếng Pháp ghi chú: Saint-Valentine. Đó là ngày gì? Với tôi, ấy là hai mươi bốn giờ dành cho mơ mộng. Mỗi năm trải ra một giấc mơ. Tôi mong năm tới, giấc mơ tôi tựu thành là mong đón nhận một thi tập mang tên Trần Vấn Lệ. Tôi sẽ cẩn trọng gói trong giấy hoa, cột nơ đỏ để làm quà cho cô bạn cũ mãi còn lận đận ở phương xa. Em hãy đọc hết giúp anh, bởi em hiểu cho, người đủ sức để nói tới tình yêu, thay anh, chính là nhà thơ Trần Vấn Lệ. Một dòng thơ chân tình chảy trôi vào lòng, em có cảm được chăng? Em có thấy vậy không? Một món quà Hoa Lệ! Yêu em, lệ ngát hiên tây…

Hồ Đình Nghiêm
18 tháng Tư, 2017

Advertisements