Viết về Đa Hiệu số 107 – Tháng 5/2016

bia-dh-107

 

Tôi thật sự xúc động khi cầm trên tay cuốn báo Đa Hiệu số 107. Tranh bìa với hình ảnh con chim bồ câu tung bay trên nền cờ vàng ba sọc đỏ rực rỡ, hai cánh tay đưa lên nắm chặt với xích xiềng đã bị bứt tung bên hoa vàng và những từ Dân Chủ, Tự Do. Có phải người họa sĩ muốn nói lên quyết tâm phá tan áp bức, mang đến tự do dân chủ và mùa xuân thanh bình cho dân tộc của tất cả con dân Việt Nam?

Lật trang trong, hình ảnh người Sinh viên Võ Bị năm xưa trước cổng trường cũ với câu châm ngôn “Tự thắng để chỉ huy” như nhắc nhớ những người trai Võ Bị dù trong bất cứ hoàn cảnh nào mình cũng là người chỉ huy nên phải biết “Tự Thắng” chính mình.

Tiếp theo là trang Di chúc của vua Trần Nhân Tông, một vị vua được sử sách ca ngợi là một trong những hoàng đế anh minh, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Sau khi quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đánh tan quân đội hùng mạnh của nhà Nguyên, vua Trần Nhân Tông đã cho giảm thuế, phát lương chẩn, tích cực khôi phục các công trình đã bị quân Nguyên hủy hoại… Nhờ đó, nước Đại Việt dần dần lấy lại sự hưng thịnh và phát triển cực thịnh thêm nữa. [1] Càng đọc tôi càng thấm thía và khâm phục vị minh quân này. Ông đã nhìn xa, trông rộng, đã tiên liệu từ hơn 800 năm trước: “Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa nước Tàu… Không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta…” Ôi lời Người sao thật chí lý như còn vang vọng khắp non sông: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

Tim tôi đã rạn nứt khi nhìn người thiếu nữ trong y phục tang chế quỳ trước ngôi mộ của miền Nam: 30/4/1975 – ngày phần đất ở phương Nam đang phát triển, đầy sức sống và sáng tạo đã chết tức tưởi. Biết bao thân phận, gia đình và con người đã ly tán, tan nát, đổ vỡ, chết chóc… vì biến cố này. Những con số ghi ở đây có quá khiêm tốn chăng?

100.000 chết thủ tiêu
95.000 chết tù cải tạo
500.000 chết vượt biển

Tôi e sự thật còn nhiều hơn thế nữa…

Bởi vậy nên “Tháng Tư mãi là nỗi buồn” như tựa một bài viết của Cao Huy Huân. Tôi đã thấy hình ảnh một trong những chuyến tàu đầu tiên đưa người viễn xứ để từ đây con dân xứ Việt bắt đầu cuộc hành trình tỵ nạn, lưu vong ở xứ người vì không muốn và không thể sống dưới chế độ Cộng Sản độc tài đảng trị, tất cả mọi thứ quyền tự do tối thiểu của con người đều bị bóp nghẹt.

Xin được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của Ngũ Hổ Tướng của QLVNCH đã noi gương người xưa thà chết chứ không chịu đầu hàng giặc. Số báo này cũng đã giới thiệu những trang bi hùng của lịch sử cận đại chống lại cộng sản xâm lược bảo vệ miền Nam, để lớp con cháu sau này biết được thế hệ Cha Anh của mình đã chiến đấu dũng cảm, cố gắng giữ nước như lời tiền nhân dò dặn. Qua câu chuyện “Chiếc bóng của vị thầy tu” của Phạm Tín An Ninh, chúng ta biết được về Thiếu Tá Không Quân NVL, một phi công tài giỏi, thông minh và dũng cảm. “Anh đã bất chấp mọi hiểm nguy, tình nguyện tham gia cấp cứu một phi hành đoàn bạn, cứu được ba trong bốn người của phi hành đoàn, khi phi cơ phải đáp khẩn cấp vì bị trúng đạn, phát hỏa, người xạ thủ đã bị tử thương. Được bốn gunships yểm trợ, L. đã lừa địch và đáp xuống trong màn lưới đạn, bốc ba người bạn đang bị Cộng quân truy bắt. Nhưng khi phi cơ vừa được bốc lên, L. bị trúng hai viên đạn, làm gãy xương cánh tay và ống chân trái… Người co-pilot trong phi vụ này đã kể lại câu chuyện với lòng thán phục: Nếu không có L. hôm ấy chắc chắn việc cấp cứu đã không thành, không chỉ ba người lâm nạn mà cả phi hành đoàn rescue có lẽ cũng đã bị địch quân giết hay bắt sống.” [2]

Bài viết “Chuẩn Tướng Trần Văn Hai trên chiến trường Chu Pao của tác giả Phạm Phong Dinh đã nhắc đến trận đánh hết sức khốc liệt của Kontum Kiêu Hùng năm 1972 mà phóng viên chiến trường Kim Tuấn – Vũ Hoàng đã ghi lại: “Với trận tuyến dài gần 3 cây số, địch tạo thành những tuyến ngang dọc chằng chịt bằng các giao thông hào sâu nửa người. Với một hỏa lực được mô tả là hết sức ác liệt, các loại súng chống chiến xa như B40, B41, 95KD, địch sử dụng làm vũ khí cá nhân. Mưu toan của trung đoàn 95B là tiêu diệt hoàn toàn “trung đoàn tăng”, đánh một trận phủ đầu để làm tạo uy thế làm nhụt chí binh sĩ ta…” [3]

Tiếp đó, bài viết “Cậu: đại niên trưởng, 30 tháng 4” của tác giả Tealan Minh Tuyết đã viết về tấm gương kiêu hùng của cố Thiếu Tá Lê Vĩnh Xuân (K13) đã cùng gia đình tự sát vào tối ngày 30/4/1975 quyết không rơi vào tay giặc.

Làm sao cầm được nước mắt khi đọc “Chuyện cũ ghi lại” của MX Võ Xá tưởng nhớ cố Thiếu Tá Tôn Thất Trân, người đã ghi trong cuốn lưu niệm K20 những dòng chữ hào hùng: “Nguyện dấn thân để nối gót các bậc đàn anh, góp phần đem lại thanh bình cho đất nước và an lạc cho dân lành”. Anh đã thực hiện đúng lời thệ nguyện đó. MX Tô Văn Cấp đã kể lại: “Bất cứ ở đâu với nhiệm vụ nào, Tôn Thất Trân vẫn sống và chiến đấu hào hùng, quả cảm và bằng cả khối óc của mình, đứng thẳng trên hai bàn chân…” [4]. Đã có những lần đụng trận, bị thương nhưng anh không chịu tải thương, tiếp tục chỉ huy trận đánh, mang lại thắng lợi vẻ vang. Vì anh suy nghĩ: “Mấy ngày nay tôi đã nắm vững địa thế cũng như tình hình địch, nếu người khác thay họ phải làm lại từ đầu, có khi gây thêm tổn thất nữa…” Anh đã bị bên thắng cuộc hèn hạ bắn chết trong giờ thứ 25 ngày 1/5/1975.

“Người đàn em đáng nể: Thiếu Úy Trần Hữu Sơn K28” của Lê Quang Liễn K20 đưa chúng ta về trại tù khổ sai Ái Tử Bình Điền. Ở đây, các án bộ trại từ trên xuống luôn đối xử với anh em hết sức tàn tệ, bằng lòng đầy thù hận. Thiếu Úy Trần Hữu Sơn đã cùng anh em tham gia vào biến động 20/4/1975 và đã sa chân trong cùm kẹp nhưng vẫn không bị khuất phục trước bạo lực: Anh đã tuyệt thực để chống lại sự tàn bạo bất nhân của giặc Cộng và đến ngày thứ 8 (11/10/1979) anh đã vĩnh viễn ra đi để lại tiếc thương trong lòng tất cả anh em tù.

Và đặc biệt, lần đầu tiên trên Đa Hiệu, một danh sách đầy đủ những người con yêu Võ Bị khóa 19 Vị Quốc Vong Thân, một khóa “bù” nên đã gánh rất nhiều bất hạnh, tai ương và hy sinh nhiều nhất so với những khóa khác. Tôi dừng lại ở tên Thiếu Tá Bùi Đức Cát là anh cả của một chị bạn thân. Tôi lại nhớ đến những dòng thơ chị viết cho Anh năm ngoái:

Một trưa 29 tháng Ba, 1971,
anh về, từ chiến trường Cam Bốt,
Nguyên vẹn hình hài, sao anh không nói năng?
Anh còn đó,
sao tim tôi tan vỡ?
Anh còn đó,
sao một họ hàng khăn trắng buồn đau? [5]

vòng khói lửa, anh đi,
bi tráng, oai hùng.
Khi trở về,
thiên thần gẫy cánh, rã. mong manh…
chiến hữu nhớ thương,
gọi,
bụi. đất. cát. (B. Đ. C.), tên anh.

cuối tháng Ba, một ngày rũ rượi, buồn…
Tuổi ba mươi, cát bụi, với cuồng phong.
Tiễn đưa anh, nước mắt. một dòng sông…
(Duyên – Tháng Ba, Anh Về)

Chị vẫn nhắc Anh hoài với tôi mỗi khi hai chị em có dịp nói chuyện với nhau. Gần đây, chị tâm sự: Đọc bài viết “Ông Ngoại của Na” của Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh mà chị nhớ anh Cát quá Mai ơi! Sao những chi tiết trong truyện lại quá giống như vậy? Anh Cát đã học Văn Khoa một năm rồi vào Võ Bị Đà Lạt với lý tưởng gìn giữ non sông, mang thanh bình về trên quê hương dù Ba chị muốn anh hoàn tất việc học trước đã. Nếu Anh còn sống, thì chắc cũng như nhân vật trong truyện, Anh cũng đã có vợ và con cháu, cũng vào trại tù cải tạo của CS và bây giờ đang mang bệnh tật của tuổi già… Nước mắt chị vẫn rơi mỗi khi nhắc đến Anh…

Bỗng dưng tôi nghĩ đến nước mắt những người thân, đồng đội, bạn bè của tất cả Những Người Con Yêu đã hy sinh cho Tổ Quốc trong cuộc chiến vừa qua. Nước mắt đã nhiều như sông, như biển mà Tổ Quốc giờ vẫn chưa yên: Cộng Sản Việt Nam cùng với Tàu Cộng đã phá nát quê hương chúng ta trên mọi bình diện. Và gần đây nhất là chuyện cá chết hàng loạt dọc theo các vùng biển miền Trung, bắt đầu vào ngày 6/4/2016. Nguyện cầu một mai Tổ Quốc chúng ta sẽ tươi đẹp hơn khi bóng ma Cộng Sản không còn trên quê hương.

Trần Thị Nguyệt Mai
7/7/2016

 

[1] Theo https://vi.wikipedia.org/
[2] Trang 44 – DH 107
[3] Trang 100 – DH 107
[4] Trang 107 – DH 107
[5] Thiên Thu, thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Nguồn: Đa Hiệu số 108 – tháng 10/2016

Advertisements