Câu Chuyện Văn Học – Về nhà thơ Đỗ Nghê và thi phẩm đầu tay: “Tình người”.

Tản mạn của Trần Hoài Thư

Bìa tập thơ xưa của Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) Lữ Kiều trình bày - hình cocteau - saigon 67

 

1.

Phạm văn Nhàn chuyển cho tôi bài viết của Thu Thủy (một bút hiệu của Võ Phiến)  về tập thơ Tình Người của Đỗ Nghê vào năm 1974, để chúng tôi đi vào mục Di sản Văn chương miền Nam.

Tôi nghĩ, đối với nhà thơ Đỗ Nghê, tôi cần phải  viết nhiều, và đây là dịp để tôi muốn tỏ bày những gì tôi biết về ông, và thơ ông.

Hiện nay chúng ta vẫn thường đọc những bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở trên Net. Bài viết của ông, mặc dù là những lời  của một vị bác sĩ, nhưng là những tâm tình thật ăm ắp thi ca, bởi vì – rất dễ hiểu – trước hết ông là nhà thơ – hôm qua và bây giờ.

Tôi có được cơ duyên gần gũi với nhà thơ họ Đỗ này trong một thời gian khi tôi làm lính vùng hai. Cứ mỗi lần  đi phép, tôi hay chọn SG để về. Có hai nơi để tôi qua đêm. Đó là cái cabin của vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức & Bé Ký và căn lầu của Đỗ Nghê tại một hẻm gần khu Bàn Cờ.
Và những lần rảnh rỗi, Đỗ Nghê vẫn hay chở tôi bằng chiếc Vespa đi rong chơi các phố SG, hoặc có khi đêm đêm hai đứa ghé tại một quán bánh cuốn lộ thiên ở đầu hẻm. Một chàng bác sĩ luôn luôn chỉnh tề chững chạc, miệng hay nở nụ cười, với đôi kính trắng, dáng người phốp pháp, đi đứng thì ung dung, nói năng từ tốn, không bao giờ chửi thề, hiền như bụt … lại làm bạn với một tên lính bụi đời, phóng đãng, thì quả là chuyện lạ, khiến một số bạn bè ngạc nhiên không ít. Làm sao họ biết có một thứ chung như keo kết dính chúng tôi. Đó là lòng yêu mến nghệ thuật, thi ca chảy trong máu huyết.
Bằng chứng?

Hãy nhìn quanh ông: bạn bè toàn là nhà văn, nhà thơ.

Với mẫu người như vậy, nào ai biết ông đã lập một kỳ công là xây cái nhịp cầu Ô Thước ngay tại con đường Phan Đình Phùng SG gần tòa soạn Bách Khoa để giúp một chàng Ngưu Lang từ chót vót Trường Sơn và  nàng Chức Nữ  ở mút tận đồng bằng châu thổ  gặp nhau! Cái cầu ấy được thực hiện bằng chiếc Vespa mà ông đã làm tài xế để thả chàng xuống trước tòa soạn, rồi sau đó dzọt lẹ!

Nhưng thú thật,  thân thiết với ông như vậy, nhưng tôi vẫn không thể hiểu tại sao ông lại ký bút hiệu là Đỗ Nghê?

Giữa hai tên Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Nghê, nghe Đỗ Nghê nó có vẻ không “ấn tượng” chút nào, nhất là bút hiệu này được khai sinh ở một thời có Tôn Nữ Hoài Mi, Trần Như Liên Phượng, Hoàng Yên Trang, Nguyễn thị Thùy Mỵ… những bút danh nữ nhưng sự thật là mày râu rặt. Có lần tôi tự hỏi, bộ văn chương VN hết chữ rồi sao mà chàng lại bắt chước một Nguiễn Ngu Í để chọn bút hiệu Đỗ Nghê? Hay là chàng thi sĩ này muốn lập dị chơi?

Nay được ông giải thích lý do:

Mẹ tôi họ Nghê. Nghê Thị Như. Năm 1956, đi làm thẻ căn cước, người làm hộ tịch nói họ gì họ Nghê, bà nói tầm bậy, họ Lê chứ! Rồi ông ghi ngay vào sổ bộ: Lê Thị Như.

Tôi làm thơ từ hồi trẻ, đã lấy bút danh Đỗ Nghê. Năm 1967, in tập thơ đầu tay, TÌNH NGƯỜI lúc đang là sinh viên y khoa, do Lữ Kiều (Thân Trọng Minh) người bạn cùng lớp làm bìa, và năm 1973 in tập THƠ ĐỖ NGHÊ, đều dưới dạng ronéo để tặng bạn bè anh em.  Sau này, các tập thơ khác của tôi như Giữa hoàng hôn xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác với tên thật Đỗ Hồng Ngọc. Người cũ trách sao không giữ Đỗ Nghê, người mới không biết Đỗ Hồng Ngọc là Đỗ Nghê. Sau 75, nhiều ông Đồ xứ Nghệ thường được báo chí viết là Đồ Nghệ, rất dễ có sự nhầm lẫn.

“Tình Người” thất lạc, may gặp lại từ một người bạn cũ. Bìa long, gáy rách, lem luốc… Nhưng vẫn là một kỷ niệm đáng nhớ của tuổi đôi mươi, của một thời như xa lắc… Mới thôi, mà đã nửa thế kỷ! Những bài thơ thời đó như vẫn còn mới toanh! Thư cho bé sơ sinh, Tâm sự Lạc Long Quân, Tổ Quốc, Lời Ru…

 

2.

Tập thơ đầu tay của ông dù chỉ là những trang quay ronéo, cái bìa với hàng chữ Tình Người không có gì là đẹp mắt chút nào, nhưng ông lại bồi hồi khôn tả. Ừ, thì ai lại không bồi hồi, khi thấy đứa con thất lạc của mình sau gần 50 năm mới được gặp lại. Nhưng ở đây chẳng những bồi hồi, nhà thơ còn tìm gặp một điều gì khác:

Những bài thơ thời đó như vẫn còn mới toanh.

 Vậy “mới” là gì ? Tạo sao là mới ? Chẳng những thế mà còn là “mới toanh”!

Tôi  bỗng liên tưởng đến chữ “cứa”  được Trần Đăng Khoa giải thích qua cõi thơ Phạm Tiến Duật:

“Thời chiến, nói đến Phạm Tiến Duật là người ta nhắc đến Lửa đèn, Nhớ, Gửi em cô thanh niên xung phong. Nó tạo được một ấn tượng đặc sắc. Bây giờ đọc lại Phạm Tiến Duật, tôi lại bị ám ảnh bởi Khoảng tối trong rừng, viết về một cô nuôi quân trong rừng Trường Sơn, đặc biệt, là Cô bộ đội ấy đã đi rồi. Một cô gái đã “37 tuổi chồng con thì chưa nói”, bây giờ lại đến chia tay các anh để chuyển đơn vị vào vùng rừng sâu hơn, khốc liệt hơn: “Thôi em đừng bẻ đốt ngón tay – Nước mắt dễ lây mà rừng thì lặng quá”. Trong những năm chiến tranh, không một nhà phê bình nào để mắt đến những bài thơ này…

Đến đây nhà thơ Trần Đăng Khoa mới giải thích về cái “mới” của thi ca miền Bắc. bằng một chữ rất  ý nghĩa. Đó là chữ “cứa”:

Bây giờ bình tĩnh đọc lại, chính những bài thơ này mới không thấy cũ, nó vẫn “cứa” được vào lòng người đọc, dựng lên số phận của cả một thế hệ, những người đi qua chiến tranh. Và rồi cùng với họ, ta thấy được cả một thời đại…

Sở dĩ tôi dùng lời giải thich của nhà thơ miền Bắc để chứng minh về chữ mới, không ngoài mục đích muốn nói về một mẫu số chung. Dù Bắc hay dù Nam, cái nhìn vẫn là một.

Ảnh hưởng của “cứa” là làm lòng ta đau, mà khi lòng ta đau có nghĩa là bài thơ đã sống và không chết.

Không tin, mời quí bạn đọc bài viết của Thu Thủy (một bút hiệu của nhà văn Võ Phiến) trên nhật báo Chính Luận vào năm 1974 để hiểu rõ hơn về chữ “cứa” này trong tác phẩm đầu tay của Đỗ Nghê và cũng để biết tại sao nhà thơ của chúng ta lại cảm thấy là “mới toanh” mặc dù tập thơ ra đời cách đây 50 năm:

 

 

Thơ Đỗ Nghê

Thu Thủy

(nhật báo Chính Luận 20.11.1974)

 

Có lần chúng tôi nói đến hiện tượng mới hình thành trong sinh hoạt văn nghệ hồi gần đây, là loại sách in hạn chế (chỉ một vài trăm bản), phổ biến hạn chế (trong vòng thân hữu).

Lần này chúng tôi xin giới thiệu một tác phẩm thuộc loại ấy: “Thơ Đỗ Nghê” mới ra đời, do nhà Ý thức ấn hành 200 bản, với lời bạt của Lữ Kiều.

Tác giả không phải là người xa lạ. Trước đây bảy năm Đỗ Nghê đã cho xuất bản một thi tập (Tình người). Cách đây hai năm – dưới một bút hiệu khác trong một tủ sách khác (y sĩ chứ không phải thi sĩ) – ông đã cho xuất bản một tác phẩm về y học.
Thi phẩm vừa in dày 80 trang, gồm 31 bài thơ, trong đó có những bài đã được viết ra từ chín, mười năm trước, hồi tác giả còn là một sinh viên.

Phải chăng vì tác phẩm gom góp những sáng tác tản mạn trong một thời gian khá dài, bao trùm nhiều chủ đề khác nhau, phản ánh nhiều giai đoạn tâm tình khác nhau mà nhà thơ phân vân việc chọn nhan đề cho tác phẩm? “Thơ Đỗ Nghê” đó có vẻ là một nhan đề của toàn tập thi phẩm, điều mà chúng ta nghĩ rằng tác giả chưa nghĩ đến vào lúc này: tác giả hãy còn quá trẻ.

Sự thực, dù tản mạn trong mười năm, dù đề cập đến nhiều đề tài, giữa các bài thơ trong tập không phải không có một mối liên hệ. Có lẽ không được đặt thành chủ đề chung, nhưng mối ưu tư về “chiến tranh và hòa bình” bàng bạc, thấm nhuần gần khắp các sáng tác của ông Đỗ Nghê trong mười năm qua.

Hoặc trong lúc ru con bằng những lời mỉa mai:
… “Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Cầm súng với cầm gươm
” (trang 14)

Hoặc trong lúc ru… vợ, bằng những lời cay đắng:
Ngủ đi cưng ngủ đi cưng
Kề tai đây anh bảo
Coi như mình chẳng có quê hương
” (trang 19)

Hoặc khi nhắc lại huyền thoại Lạc Long Quân chia con đi hai ngả để liên tưởng tới tình trạng Nam Bắc lưỡng phân hiện thời (trang 5); hoặc khi nói về cổ tích ngôn ngữ để ám chỉ cuộc xâu xé liên miên giữa các dân tộc (trang 33); hoặc nghe một bản tin thời tiết hàng ngày (trang 36); hoặc làm một bài vè cho niềm mơ ước đơn giản (trang 48) v.v…, lúc nào người ta cũng nhận thấy nhà thơ bị vấn đề chủ yếu nọ ám ảnh: Chiến tranh trên quê hương; Hòa bình cho quê hương.

Nếu không được đặt ra làm nhan đề lộ liễu, thì thiết tưởng đó vẫn là chủ đề kín đáo của tác phẩm.

Người đề bạt tập thơ là một đồng nghiệp của tác giả, lại cũng là một văn hữu đối với tác giả – Trên đường đời, hai người đã quen nhau từ thuở còn đi học. Vì vậy, có lẽ chúng ta không mong biết gì hơn về Đỗ Nghê hơn là Lữ Kiều.

Nhận xét về bạn mình trong buổi đầu tiên mới gặp nhau, Lữ Kiều thấy Đỗ Nghê là “một người nghiêm túc”. Rồi “hơn 10 năm qua, tôi đã không nhầm về cái trực giác đầu tiên ấy. Một người nghiêm túc. Và điều quan trọng, anh làm thơ, và thơ anh cũng giống như người anh vậy.” (trang 75)

Chúng tôi tán đồng cái trực giác của ông Lữ Kiều: quả họ Đỗ là một người nghiêm túc, ít ra là ở cái phần cốt cách cùng tâm hồn thể hiện trong văn chương.

Ở xứ ta, mỗi ngày mỗi thêm nhiều người làm thơ. Để được nổi bật, được chú ý giữa đám đông, lắm kẻ giở trò lập dị táo tợn hò hét ồn ào; hoặc nói năng ngang tàng, kiểu cách, hoặc tục tĩu dâm ô v.v… Ông Đỗ không hề có những dụng ý như vậy.
Mặt khác, dù không lập dị, thì lớp trẻ thời chiến, sống trong sự đe dọa thường xuyên giữa lằn ranh sinh tử, lớp trẻ ấy hay nói đến say sưa, khoái lạc, nói giọng liều lĩnh, bất cần đời v.v… Ông Đỗ không hề có thái độ ấy.

Xót xa, đau đớn, ông cũng xót xa đau đớn vì thời cuộc như ai; nhưng ông không liều, không phá, không đọa lạc. Lúc nào ông cũng đứng đắn, chững chạc, nghiêm chỉnh, giản dị. Nỗi đau xót của một người như thể lịm hẳn vào bên trong.
Toàn thi tập không có thơ lục bát và song thất. Chỉ có thơ thất ngũ ngôn và thơ tự do. Điều lạ lùng là ngay trong những bài thơ tự do, những câu thơ dài ngắn không đều, nhịp thơ như khấp khểnh lảo đảo, vậy mà phong thái vẫn không mất vẻ nghiêm túc!

Ơi những con đường ta đã đi
Gia Long, Đồng Khánh mượt xuân thì
Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh
Gió ở đâu về thơm bước khuya” (trang 11)

Những câu như thế nghiêm túc đã đành. Mà những câu “tự do” sau đây viết vào dịp Giáng sinh 1967:

Chúng ta có 24 năm chiến tranh
Và 24 giờ ngưng bắn
Ôi 24 giờ ngưng bắn
Cũng đủ lắm rồi…
Cũng đủ lắm rồi cho con về thăm cha
Nằm trong lòng đất lạnh” (trang 31)

những câu ấy đâu có vì tự do mà mất vẻ nghiêm túc?

* *

Bấy lâu nay người ta vẫn thường quen với hình ảnh những chàng thi sĩ tếu, lang bạt kỳ hồ, thi sĩ ngất ngưởng chuếnh choáng v.v… Cho nên một thi sĩ nghiêm túc thoạt tiên có thể làm ngạc nhiên bỡ ngỡ.

Nhưng điều ấy tưởng không mấy quan trọng: trước lạ sau quen, miễn là có tài, chẳng mấy chốc chàng sẽ được mọi người mến yêu.

Cái điểm thứ hai nơi ông mà người bạn Lữ Kiều không kịp phát hiện bằng trực giác, ấy là cái đôn hậu. Tức là điểm trái ngược hẳn lại với sự khô khan, lạnh lùng.
Một hôm, họ Đỗ nhớ về quê xưa:

Em có về thăm Mũi Né xưa
Con đường sỏi đá vẫn quanh co
Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc
Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ
Em có về thăm Mũi Né yêu
Mười năm như một thoáng mây chiều
Mười năm vườn cũ chim bay mỏi
Áo trắng chân mềm em hắt hiu.” (trang 9)

Lời thơ không chút gì cầu kỳ, đọc lên lại nghe có vẻ quen quen như từng gặp ở đâu đó. Thế mà những lời giản dị quen thuộc đó lại làm ta xúc cảm, bâng khuâng. Ấy chính bởi cái vẻ chân thành, cái đôn hậu tỏa ra từ tấm lòng người thơ.

Họ Đỗ nói đến chiến tranh, nói đến bom đạn, đến chết chóc, đủ mọi thứ đáng khiếp đáng hãi; nhưng không một lần nào lời thơ có vẻ ác liệt bạo tàn.

Không thể tìm ở đâu ra trên đời này một con người hiền lành hơn.

Cái hiền lành đôn hậu của họ Đỗ không phải chỉ để sánh với người đời mà thôi. Nó còn làm mất cả khí phách (!) của thần linh trong huyền thoại nữa. Ông tổ Lạc Long Quân trong thơ Đỗ Nghê là một ông cụ già dễ thương không biết chừng nào. Không biết ông tung hoành lẫm liệt giết Hồ tinh Ngũ tinh ở đâu, chứ ở đây ông cụ chỉ có băn khoăn, hối hận, đấm ngực chịu lỗi vì trót chia hai đám con khiến chúng nó gây sự đánh nhau. Ông cụ van vỉ con cháu:

Đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi
Rồi đứng ôm nhau mà khóc
Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất” (trang 7)

Nhưng trước hết, đó là những giọt nước mắt đôn hậu làm đẹp một thi phẩm, điều mà Lạc Long Quân không kịp nghĩ đến!

THU THỦY 

(Nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 72 – tháng 10/2016)

***

Phần phụ lục của nhà thơ Đỗ Nghê gửi tặng TQBT

Thư cho bé sơ sinh

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến

Anh đã không quên buộc etiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Đỗ Nghê
(Từ Dũ, 1965)

 

dn4

 

dn3
*

Tâm Sự Lạc Long Quân

khi ta đưa các con 50 người xuống biển
và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
có một điều gì khiến ta linh cảm trước
nhưng vì yêu vì thương các con
vì muốn non sông mình thêm gấm vóc
và cũng vì mẹ các con đoan chắc
các con sẽ không bao giờ quên
đã cùng sinh ra trong một bọc
một trăm trứng
một trăm con
các con sẽ không bao giờ quên…

nhưng bây giờ mọi sự xảy ra
các con đều đã rõ
những vết ô nhục trong lịch sử chúng ta
các con đều đã rõ
nên ta vẫn đau lòng tự hỏi
muôn lỗi lầm này có phải vì ta
khi ta đưa các con 50 người xuống biển
và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng

càng ăn năn ta càng thương các con nhiều nữa
nên vẫn hằng mong
nếu các con còn nhớ
đã cùng sinh ra trong một bọc
thì hãy nghe ta

đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi
rồi đứng ôm nhau mà khóc
nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất

thì hãy nghe ta
hỡi các con gái con trai của ta
trót mê cuồng trong dục vọng đảo điên
trót bán tâm hồn buôn thể xác
hãy tha thứ cho nhau – tha thứ hết
rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê hương
vì lỗi lầm này nào phải bởi các con

khi ta đưa các con 50 người xuống biển
và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng…

Đỗ Nghê

 

dn

 

dn1

Advertisements