Chuyện người

Cao Thị Hoàng
https://xunauvn.files.wordpress.com/2013/11/ca-mau-2.jpg?w=426&h=264Nguồn: Internet

Saigon 1976
Đêm nay, đêm cuối cùng của đô thành Saigon.
Ngày mai, 2.7 đô thành Saigon chính thức là thành phố Hồ Chí Minh.
Đêm nay, đêm cuối cùng của Huy còn hít thở không khí đô thành và ngồi trên thềm cũ nhà mình.
Rạng sáng mai, Huy và gia đình rời nơi chôn nhau, cắt rốn để đi kinh tế mới Kiên Lương. Một vùng đất mà Huy và gia đình chưa hề biết đến.
Cả nhà thao thức, không ai ngủ. Chẳng phải lo sợ vì nơi sắp đến, mà vì mỗi thứ vật dụng trong nhà, từ ngăn bếp, đến sàn nước, viên gạch, chỗ vui đùa lũ trẻ, khóm hoàng lan ngoài hiên… đều hóa thành tâm hồn níu bước người ra đi.
Huy thẫn thờ, hút hết bao thuốc lá LucKy. Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má hốc hác.
Trời Saigon nửa đêm về sáng mưa lắc rắc và im ắng lạ thường, ít còn nghe tiếng xe xích lô máy chạy ầm vang trên đường phố như ngày xưa vì thiếu nhiên liệu.
Huy suy ngẫm vùng đất Saigon đã chứng kiến biết bao cuộc đổi dời, dâu biển. Thương công nữ Ngọc Vạn vâng lệnh cha là chúa Sãi lấy vua Chân Lạp. Nhớ công ơn nhà Nguyễn mở cõi đất phương Nam.
Nhớ Nguyễn Hữu Cảnh năm 1687 lập phủ Gia Định. Rồi người Pháp chiếm Đông Dương – trong đó có Việt Nam – Nhằm khai thác thuộc địa, thành phố Saigon ra đời – còn được gọi là Hòn ngọc Viễn Đông, Paris Phương Đông – Thủ Đô Liên Bang Đông Dương (1887 – 1901).
Thủ Đô VNCH (1954 – 1975).
Ngần ấy 300 năm mà thế sự mang mang…
Chuyến xe chạy bằng than – thay nhiên liệu – ì ạch, trật vuột trên quãng đường hơn 200 cây số, suốt từ sáng đến khuya mới đến Kiên Lương.
Lúc ra đi , không ai đủ can đảm ngoái nhìn căn nhà thân yêu đã trải qua hai thế hệ gia đình. Và, họ biết rằng, từ đây căn nhà ấy mất vĩnh viễn.
Thật ra, hộ gia đình của ông bà năm An – ba má Huy – thuộc diện cưỡng chế đi kinh tế mới Phú Giáo, nhưng ông năm An xin tình nguyện đi hộ lẻ xuống vùng kinh tế mới Kiên Lương, nơi quê nhà người bạn của ông đang sinh sống. Người bạn ấy là bác sáu Thứ.
Vạn sự khởi đầu nan. Rồi đâu cũng vào đó.
Được gia đình bác sáu Thứ và bà con xung quanh hết lòng giúp đỡ, ba má Huy dựng được căn nhà lợp lá, vách đất bện rơm, trông cũng điệu đàng bắt mắt. Vợ chồng Huy và mấy đứa em bắt đầu tay lấm, chân bùn, vỡ hoang trồng vụ khóm đầu tiên trên vùng đất mới. Da tay phồng dộp, rướm máu. Nỗi nhớ Saigon không còn chập chờn như hồi mới xa, giờ thì đã lắng sâu vào lòng mỗi người theo từng giọt mồ hôi rớt trên liếp rẫy .
Thường khi, sau một ngày lao động cực nhọc, vợ chồng Huy và mấy đứa em về đến nhà trước khi trời sụp tối. Hôm nay, Huy cho vợ và mấy đứa em về trước, còn mình ở lại đốt đám tranh cuối rẫy để sáng mai đào đất vét mương nước. Huy mồi lửa, tiếng tranh sậy nổ lốp bốp hòa lẫn khói bay theo gió, rượt đuổi thành những con sóng chạy trên đầu ngọn lửa. Huy hút thuốc, ngồi nán lại trên bờ đất nhìn nắng chiều rớt qua ngọn đá Ba Hòn. Huy nhớ mới ngày nào hai vợ chồng là thầy cô giáo – đùng
một phát – trở thành nông dân trên dải đất miền biển tây Tổ Quốc. Ngày ấy, Huy là Giáo Sư dạy Toán đệ nhị cấp Trường Trung Học Phổ Thông Tân An, vợ Huy – cô giáo Tường Vy – dạy Trường Nữ Tiểu Học tỉnh lỵ Tân An. Sau 30.4.1975, Năm Tải – cán bộ miền Bắc chi viện – tiếp quản Ty Giáo Dục Long An, huấn thị:
– Qua thanh loại, anh chị ngồi đây là đồng nghĩa được lưu dung tiếp tục dạy, còn những ai vắng mặt xem như mất dạy.
Cả hội trường im phăng phắc – con ruồi bay cũng nghe – cán bộ Năm Tải, nói tiếp:
– Để chuẩn bị cho năm học mới, dưới chế độ mới, các lớp phải gỡ bỏ những châm ngôn cũ, như: Tiên học lễ , hậu học văn. Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời… Thay vào đó những khẩu hiệu mới, như:
Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Muôn Năm, Chủ nghĩa Mác–LêNin Vô Địch Muôn Năm, Lao Động Là Quang Vinh… Từ nay, tất cả người dạy học được gọi là giáo viên, phải soạn giáo án và được kiểm tra trước khi lên lớp, mỗi lớp có giáo viên chủ nhiệm, mỗi môn dạy có giáo viên trưởng bộ môn … Giáo viên nữ mặc áo ngắn, không mặc áo dài, chân đi dép. Giáo viên nam mặc áo bỏ “ngoài thùng”, không cà vạt, không mang giày.
Các cô thầy giáo ngỡ ngàng, bởi từ nay mình là giáo viên lưu dung, cô thầy giáo ở miền Bắc vào mới chính là giáo viên. Những điều kiện quy định, chừng không thích hợp với môi trường giáo dục?
Nói xong, cán bộ Năm Tải hỏi:
– Các anh chị có ý kiến gì không?
Giáo Sư Huy đứng lên, mọi cặp mắt đỗ dồn về phía Giáo Sư.
– Thưa cán bộ, chúng tôi là giáo viên lưu dung hay lưu dụng?
Cán bộ Năm Tải lấy ngón tay sửa lại nút áo bà ba, rồi nói dõng dạc:
– Các anh chị là giáo viên lưu dung. Nghĩa là Cách Mạng khoan hồng, lưu lại sử dụng.
– Nếu thế, thưa cán bộ: Tôi, Giáo Sư Toán Nguyễn văn Huy, xin được mất dạy!
Giáo sư Huy bước ra khỏi cửa, cả hội trường im lặng, sững sờ!
Buổi chiều hôm đó, Huy cùng Tường Vy bỏ Tân An trở về Saigon, sống chung với ông bà năm An.
Một tiếng thở dài theo ngọn lửa tàn nơi bờ ranh đất.
Huy vác cuốc băng đồng về nhà giữa tiếng côn trùng kêu nhá nhen! nhá nhen!
– Đi rẫy về tối vậy Huy?
– Thưa bác Sáu sang chơi với ba con. Lúc chiều, con nán lại đốt tranh sậy để mai con vét đường mương dẫn nước tưới khóm.
– Thằng thầy giáo mà giỏi thiệt.
Bác sáu Thứ vừa se thuốc rê, vừa khen Huy. Rồi quay qua ông An, bác nói tiếp:
– Hồi chú thím mới đến, tui lo vợ chồng nó không vỡ đất hoang nổi, bây giờ thì yên tâm rồi.
– Vợ chồng em và mấy đứa nhỏ, mang ơn anh chị quá nhiều. Nếu không có anh chị, tụi nầy lên khu kinh tế mới Phú Giáo chẳng biết ra sao?
Ông năm An rót rượu mời bác sáu.
– Vạn sự khởi đầu nan!
Bác sáu cười và cạn ly rượu.
– Vợ thằng Huy đâu rồi, đốt đèn lên con.
Ông năm An nói vói ra sau nhà. Bà năm An lên tiếng:
– Sổ chất đốt chưa tới kỳ mua, nhà mình hết dầu đốt đèn, vợ chồng thằng Huy đang ăn thầm.
Hai ông bạn già rủ nhau ngồi ngoài sân, nương nhờ ánh trăng non tiếp tục uống rượu.
– Hồi chiến tranh tuy chết sống, nhưng cái gì cũng có. Thậm chí, có cái dư thừa. Bây giờ, hòa bình cái gì cũng thiếu. Thậm chí, có cái thiếu lạ lùng, như gạo, muối, nước mắm, dầu hôi… Chưa lúc nào đói như lúc nầy, ăn bo bo, ăn độn khoai mì, đi đâu phải đem theo cái ăn vì mỗi người đã có tiêu chuẩn lương thực, không ai đãi ai được dù cha mẹ, bạn bè! Nông nghiệp hợp tác hóa – ruộng bỏ hoang – chấm công điểm thì gia đình neo đơn, gia đình thiếu sức lao động – kể cả gia đình tham gia kháng chiến – gặp khó khăn muôn vàn! Hàng hóa nơi thừa, nơi thiếu do lệnh ” ngăn sông , cấm chợ ”… Miền Nam chưa từng gặp tình cảnh nầy! Đúng là cuộc đổi đời “long trời, lở đất”.
Bác sáu càm ràm với ông năm An như thể trút sự bứt rứt trong lòng.
– Nhớ khi xưa, lúc lên Saigon thăm em, anh bảo: Miễn hòa bình, sống sao cũng được. Em hỏi giỡn anh, đói được không? Anh cười, đói cũng vui, miễn hòa bình để máu xương hai phía ngừng đổ. Cùng máu đỏ, da vàng, cùng nòi giống, khác chi đâu? Sao anh sáu bây giờ càm ràm thế? Thôi, em mời anh cạn ly!
– Tui bực là bực kiểu điều hành của mấy cha nội nầy. Hồi còn chiến tranh, tui đào hầm nuôi mấy cha nội nầy nói hay lắm, khi có quyền lực thì làm dở ẹt, tính toán thua mấy con buôn. Tạo điều kiện bọn cơ hội câu kết với một số quan tham đục khoét của dân, sách nhiễu dân, làm lòng người ly tán. Thượng bất chánh, hạ tắc loạn.
Rượu vào, lời ra. Tuy bác sáu nói thế, nhưng trong cái làng nầy bà con ai cũng nể trọng. Bác là người chí cốt với cách mạng, ba đứa con tham gia kháng chiến, ngày về chỉ còn một.
– Anh sáu, hôm nay sao anh nói gay gắt vậy?
– Thì đó, dầu đốt đèn cũng không đủ cho dân đốt. Ăn phải ăn thầm, nói chuyện phải nhờ ánh trăng. Tui khổ sở cũng từ thiếu dầu đốt đèn.
Bác sáu kể:
Con gái thứ bảy nó về làm dâu miệt Gò Quao. Anh sui chết sớm, chị sui ở vậy nuôi con là thằng chồng con Bảy đó. Tui thì chú biết rồi, má con Bảy bị lính Sư Đoàn 21 hành quân bắn chết, lúc theo giao liên xuống Vĩnh Thuận thăm thằng Tư đi bộ đội.
Khoảng tháng trước, nghe con Bảy nó đẻ con so, tui đi thăm nó, thăm cháu ngoại và sẵn dịp thăm chị sui. Nó lấy chồng xa, nhiều đêm tui nhớ con đứt ruột. Việc đi thăm đẻ là việc của đàn bà – không có đàn bà – cực chẳng đã tui mới đi thăm. Khi đến nhà chị sui, trời đã đứng bóng. Chuyện trò, thăm hỏi, ăn bánh khoai mì do chị sui chế biến thay cơm. Tội nghiệp thằng cháu ngoại ngoài tháng, bú sữa mẹ từ khoai, bo bo mà ra, không phải từ gạo, giữa đồng bằng Sông Cửu Long vựa lúa gạo Đông Dương!
Nghiệt lúc tui chuẩn bị về, trời đổ mưa – mưa cầm chỉnh, cầm đổ, lúc nặng, lúc nhẹ – cho đến tối. Chị sui và con cầm ngủ lại, khuya về.
Nhà chị sui sát mé rạch, mái lá, vách đất, không cửa nẻo, ngõ trước ngó ra cánh đồng cỏ mọc hoang của hợp tác xã, ngõ sau ngó ra bến rạch. Nhà chẳng có ván, bàn ghế gì, chỉ có cái giường tre con Bảy nằm cữ và cái vạt tre chị sui nằm. Tui ngần ngại, ở bất tiện, về không xong. Thằng chồng con Bảy mua cho tui xị rượu – chắc là nó mua chịu – nói tối nay con đi giăng câu không ở nhà, khuya ba về cho con gửi lời
thăm bà con xóm rẫy. Tui ăn mấy củ khoai, uống hết xị rượu, chị sui bảo:
– Lát nữa, mời anh sui lên võng nghỉ đỡ qua đêm, khuya tui dậy luộc
bắp anh ăn, rồi về cho kịp con nước.
Đêm Gò Quao trời tối đen như mực, tiếng ếch, nhái, ễnh ương hòa lẫn tiếng côn trùng như bản đồng ca thôn dã.
Tui trằn trọc không ngủ được, chợt nhìn thấy bàn tay chị sui ngoắt về phía tui. Chẳng lẽ? Tui lấy tay giụi mắt mình xem có quáng gà không? Đang suy nghĩ, bàn tay chị sui ngoắt lần hai! Chẳng lẽ? Lần ngoắc nầy thì tui nhìn thấy rõ nồm nộp, không cãi vào đâu được. Chẳng lẽ, chị sui thấy mình nằm võng lạnh tội nghiệp nên ngoắt mình sang ngủ vạt tre với chị cho ấm? Tự nhiên tui cười thầm một mình và nhớ bài hát nhại “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” của Xuân Hồng:
“… bắt chị sui đẩy lùi lên ván gõ, bắt anh sui nằm kế chị sui, tình sui gia ai nói thây kệ cha, miễn chị không la … thì tui bụp chị liền!”
Tui đắn đo, nghĩ tới, nghĩ lui, nếu không phải chị sui ngoắt mình thì chắc độn thổ! Thôi thì nán đợi, nhứt quá tam! Chị sui ngoắt tay lần ba, cái đèn bóng nhỏ phụt tắt.
Một tiếng ho nhẹ vang khẽ.
Nhà tối đen như mực!
Tui phân tích: ngoắt tay ba lần, đèn bóng tắt, tiếng ho khẽ … Đúng rồi, chị sui rủ mình sang vạt tre ngủ cho ấm! Ông bà thường nói: “liều ăn nhiều”. Đây là dịp ăn nhiều, không liều vuột mất thời cơ.
Tui nghiêng võng bỏ chân xuống đất, rón rén bước qua vén nhẹ mép mùng chị sui, mùi hương đàn bà quyện lẫn hơi ấm phả vào mặt mũi như nửa ngây, nửa ngất.
– Làm gì vậy, anh sui?
Toàn thân tui rịn mồ hôi sau lời hỏi của chị sui, vừa nghiêm khắc, vừa dịu dàng.
Chị sui ngồi bật dậy, nói nhỏ – sợ con Bảy nó nghe –
– Lạ chỗ, anh ngủ không được hả, anh sui?
Tui chết điếng người, nói chống chế:
– Sao chị sui ngoắt tay rủ tui sang ba lần?
– Mèn đét ơi, tui phất tay ba lần để tắt cái đèn bóng chứ nào ngoắt anh sui. Dầu dạo nầy khan hiếm lắm, tui tiện tặn vì nhà có dâu đẻ. Thôi, anh trở lại võng nằm nghỉ đi anh sui.
Tui ấp a, ấp úng nói lời xin lỗi chị sui, quay về võng nằm như con mèo ướt. Vừa giận mình, vừa giận cái thằng thương nghiệp phân phối dầu không đủ cho dân xài, nên mới có cảnh dở khóc, dở cười nầy!
– Bác Sáu kể chuyện nhà, cháu nghe như chuyện tiếu lâm.
– Cả cái xóm rẫy mình cũng sống tiếu lâm. Thiếm Tám đưa tem phiếu tháng nầy nhận lưỡi lam cạo râu, nửa thước vải quần tây. Thằng hai Sô thì nhận nửa thước vải bông, một lố băng vệ sinh!? Ai đời sống trên bờ xôi, ruộng mật mà đói gạo, đói cơm. Thằng chủ nhà máy, xí nghiệp, chủ hãng buôn, … thì làm ruộng rẫy. Thằng nông dân “rút rơm trâu ăn mê” thì làm ông chủ, giám đốc. Bác hỏi mầy, chẳng tiếu lâm à?
– Cháu tin rằng mai nầy sẽ thay đổi. Đây chẳng qua là buổi giao thời như cơn đau đẻ.
– Mầy nói Bác nghe cũng phải. Vậy, tại sao mầy bỏ dạy?
– Cháu và vợ cháu mất dạy vì lòng tự trọng – không phải tự ái –. Một người thầy đánh mất lòng tự trọng thì không thể dạy ai bất cứ điều gì. Tại sao, phải gọi tất cả giáo viên miền Nam là lưu dung? Cháu hiểu thiên tài cũng có khi lỡ tay, nhưng nếu lỡ tay về giáo dục sẽ phí bao thế hệ, hư hỏng con ngườ , nguyên khí quốc gia mất dần, hiền tài đốt đuốc giữa ban ngày chẳng tìm thấy. Có tìm thấy chăng, là thấy một hạng người học trong trường, thi ngoài quán. Bằng cấp thật, kiến thức giả. Sự dối trá thăng hoa, sự chân thực xuống cấp. Người thương nước thì phải thương nòi, thương nòi thì toàn xã hội phải làm cuộc cách mạng về giáo dục.
– Bác thấy cháu còn yêu nghề, Huy ạ!
– Khi cháu bước ra khỏi hội trường hôm đó, là cháu tự bóp nát trái tim sư phạm của mình.
Sương đêm thấm ướt tấm đệm bàng.
Bác Sáu cạn ly rượu và ra về. Cả nhà Huy đi ngủ.
Những gốc khóm xếp thẳng hàng chạy trên liếp, Huy và vợ nhìn thật bắt mắt. Đã ba mùa khóm bội thu, đất cũ đãi người mới. Từ một vùng đất hoang hóa, bom mìn còn sót lại sau chiến tranh, bàn tay cầm cuốc thay cầm phấn của vợ chồng Huy, đã tạo ra rừng khóm bạt ngàn.
– Anh muốn nói với mình một chuyện.
– Thì anh cứ nói, sao hôm nay anh bày vẽ thế?
Trong căn chòi giữ rẫy, buổi trưa gió thổi mái tranh nghe xào xạc.
– Mình về sống cùng anh bao năm rồi, mình nhỉ?
– Em sống cùng anh hai mặt con, anh quên à?
Huy đưa bàn tay chai sạm vuốt mái tóc cháy nắng của vợ.
– Anh có lỗi với mình. Vì anh, mình cơ cực quá!
– Thương em, anh đừng nói thế! Xưa mình yêu nhau, hai đứa từng dặn dò: gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau.
Huy nắm bàn tay vợ bóp mạnh.
– Anh thật hạnh phúc! Anh cảm ơn mình!
Tường Vy ngạc nhiên về những cử chỉ, lời nói của chồng. Bằng linh tính của người vợ, Tường Vy cảm thấy có một điều gì đó rất quan trọng sắp xảy ra.
– Mình về ở cái xóm rẫy nghèo đã hai cái tết, cuộc sống tuy còn vô vàn khó khăn nhưng cũng tạm ổn. Thấy đám trẻ thiếu ăn, đói chữ, anh xót xa chịu không được.
Tường Vy chen ngang :
– Em cũng xót xa , biết làm sao?
– Vừa rồi, Bác Sáu, ông bí thư xã, cậu bí thư Đoàn gặp anh trao đổi việc mở lớp học tình thương, cho trẻ em nghèo không điều kiện đến trường. Biết vợ chồng mình gốc nhà giáo, ông bí thư xã và cậu bí thư Đoàn mừng lắm. Anh đã nhận lời. Có lẽ, sắp tới mình vất vã và bận rộn .
– Việc phải, cực mấy em cũng làm.
– Vậy là anh yên lòng rồi!
Thật ra, vợ chồng Huy không dễ gì quên tiếng trống trường, bảng đen, phấn trắng và những ánh mắt học trò. Những hình ảnh, âm thanh ấy, như máu chảy trong thân mỗi cô thầy giáo. Xưa Quản Trọng từng bảo: Bách niên chi kế mạc như thụ nhân. Trồng người như trồng cây, trồng lúa thì tất yếu sẽ hỏng và di chứng khó lường.
Chiều nay, nhà có khách. Tường Vy về sớm lo cơm nước.
– Chú thím Năm và sắp nhỏ cơm nước gì chưa?
Tiếng bác Sáu oang oang ngoài sân.
– Dạ! Ăn rồi anh Sáu, tối ăn thầm không thấy đường.
– Thằng Huy đi rẫy về chưa chú?
– Cháu nó đang tắm.
Ông năm An vừa nói, vừa đi ra sân trải tấm đệm bàng và mời khách.
Chủ, khách ngồi xong. Bác Sáu lần lượt giới thiệu:
– Đây chú năm An – mà bà con gọi là ông năm Saigon – ba của thằng Huy.- Còn đây chú hai Tân, bí thư xã. Cháu Mẫn, bí thư Đoàn.
Mọi người bắt tay nhau, vui vẻ.
Ông năm Saigon mời khách uống nước lá cây Sa Kê – vì nhà không có trà –.
Hai Tân mở xắc-cốt, móc ra gói trà Tam Đảo.
– Nhờ chú Năm gọi tụi nhỏ pha trà.
Nắng chiều trốn mất sau mấy lùm tre. Gió biển thổi lên đồng mát rượi, lòng mọi người phấn chấn.
– Hai đứa ngồi xuống đây!
Bác Sáu kêu vợ chồng Huy ngồi bên cạnh mình.
Lâu lắm rồi, ông năm Saigon mới thưởng thức hương hoa lài ướp trà. Bất chợt, ông nhớ Saigon da diết mà từ lâu tưởng đã quên.
– Mấy hôm trước, chú hai Tân và cháu Mẫn có gặp trao đổi tình hình, công việc của xã mình sắp tới với cháu Huy. Tối nay, chú Hai và cháu Mẫn tiếp tục tranh thủ bàn cụ thể với chú Năm và vợ chồng cháu Huy.
Bác Sáu khơi mào câu chuyện.
Hai Tân chiêu ngụm trà thấm giọng.
– Vì tình hình gấp gáp, tui đến gặp anh Năm và hai cháu trao đổi hai việc quan trọng: một là mở lớp học tình thương trong xã, hai là tình hình biên giới Hà Tiên hiện nay.
Hai Tân dừng lại, xem mọi người có phản ứng gì không, rồi nói tiếp:
– Trong chiến tranh, xã mình là một xã nghèo, bom đạn chà đi xát lại nhiều lần, trai tráng ở hai đầu, hai phía đều chết hoặc thương tật gần hết. Hòa bình lập lại, khó khăn chồng chất khó khăn. Một số trẻ em nghèo không có điều kiện đến trường đành bỏ học. Làm sao số trẻ em nầy tiếp tục được học hành? Suy đi, tính lại chỉ còn có cách mở lớp học tình thương. Mở lớp học tình thương thì thầy cô ở đâu dạy?
Ông Năm lắng nghe, hỏi Hai Tân:
– Đâu phải chỉ khó có thầy cô ở đâu dạy, còn vấn đề cơ sở vật chất,
sách vở, cơm áo, gạo tiền, lấy ở đâu?
Mẫn xin phép có ý kiến.
– Về cơ sở vật chất, xã vận động những nhà hảo tâm đóng góp một phần, phần còn lại xã lo. Đoàn thanh niên vận động gia đình cho con em đến lớp, tập vở Đoàn thanh niên lo. Chương trình và sách giảng dạy, Phòng Giáo Dục chịu trách nhiệm.
Hai Tân tiếp lời Mẫn .
– Hôm trước việc nầy tôi có bàn với thầy Huy. Nay có cô Tường Vy, xin cô cho ý kiến.
Tường Vy chậm rãi trình bày những khó khăn và thuận lợi mở lớp học tình thương. Nhưng dẫu sao đây là một việc nên làm và xã cần làm gấp dù vừa mặc áo, vừa xếp hàng, vừa chạy. Tường Vy nhận lời phụ trách lớp học tình thương.
Hai Tân mừng ra mặ , cảm ơn Tường Vy. Đồng thời giao trách nhiệm cho Mẫn, trực tiếp bàn biện pháp cụ thể cùng cô giáo Tường Vy, để sau một tháng lớp học tình thương đi vào hoạt động.
Ánh trăng rọi trên sân nhà ông Năm khi mờ, khi tỏ, vì mây lúc che, lúc không. Câu chuyện càng về đêm, càng thân tình, sôi nổi.
Ông Năm Saigon nôn nóng, giục Hai Tân nói việc thứ hai.
Hai Tân trình bày tình hình biên giới Hà Tiên – An Giang, ông Năm và vợ chồng Huy nghe xong lòng bàng hoàng, sửng sốt. Ông Năm buột miệng kêu lên:
– Như vậy, trước sau rồi cũng sẽ xảy ra chiến tranh với bọn Pôn-Pốt.
Hai Tân tiếp tục nói giọng bùi ngùi:
– Hòa bình mới được hai ngày thì ngày 3.5.1975 giặc Pôn-Pốt đã đánh Phú Quốc, ngày 10.5.75 đánh chiếm Thổ Chu, giết dã man 500 dân trên đảo. Sau đó, chúng đánh chiếm Hòn Tre, Poulowai … Ngày 30.4.1977, chúng xua quân tấn công 13 đồn biên phòng và các xã dọc biên giới An Giang. Chúng công khai tuyên bố chính thức phát động chiến tranh xâm lấn Việt Nam.
Ở Ba Chúc (An Giang) chúng thảm sát trên 3.000 dân vô tội. Ở Hà Tiên chúng giết 300 người già trẻ, bé lớn trên Thạch Động. Quân Pôn-Pốt với khẩu hiệu “đốt sạch, giết sạch”, chúng bắn người tập thể, cắt cổ, đập đầu, xé trẻ em thành 2 mảnh hoặc quẳng lên không rồi giương lê đâm lòi ruột. Chúng bắt phụ nữ lột quần áo, hãm hiếp tập thể, cắt vú, lấy cây tầm vông, cộc tràm, cán búa thọc thẳng vào cửa mình cho đến chết. Tội ác nầy trời không dung, đất không tha!
Đêm vắng. Tiếng Hai Tân như uất nghẹn.
Mọi người rưng rưng nước mắt.
Tường Vy nói như trách mình:
-Trong lúc mình cặm cụi lo cái ăn thì đồng bào chết thảm trên biên giới.
Hai Tân châm thêm trà như chờ cơn xúc động đi qua.
– Để tạo điều kiện tốt nhất cho bộ đội đánh đuổi quân Pôn-Pốt xâm lược ra khỏi bờ cõi, cấp trên chỉ đạo mỗi xã thành lập Đội Dân công hỏa tuyến, nhiệm vụ tải thương, tải đạn, tiếp tế hậu cần. Đội chia làm bốn tổ, mỗi tổ 11 người, gồm gái lẫn trai.
-Đã thành lập Đội Dân công hỏa tuyến chưa chú Hai?
Tường Vy hỏi.
– Đoàn thể Nông, Thanh, Phụ đã vận động và thành lập rồi cháu. Vấn
đề khó hiện nay, tìm người giúp chú chỉ huy, điều hành, còn chú phụ trách chung.
Bác Sáu cắt ngang:
– Chú Hai trực tiếp theo Đội ra biên giới à?
– Về nguyên tắc tui không phải đi. Tui tình nguyện đi vì suốt thời chống
Mỹ, tui sống và chiến đấu trên đất Hà Tiên, quen cảnh, quen người,
ngõ ngách nào tui cũng rõ.
– Vậy, gia đình tui có thể giúp xã, giúp chú Hai được gì trong tình thế nầy?
Hai Tân ngó Huy bằng ánh mắt tin cậy.
– Tui muốn cháu Huy giúp xã và tui một tay. Chỉ có cháu Huy mới đủ bản lĩnh đảm đương nhiệm sống chết tại mặt trận.
Đêm chuyển sang canh, gà gáy rộ khắp xóm.
Tường Vy luộc rổ khoai mì, sắp ra dĩa, đâm muối ớt, mời ba má chồng và Huy ăn trưa.
– Hồi đêm ba không ngủ được. Vậy là chiến tranh đã đến đầu ngõ.
– Hay là mình bồng bế nhau về lại Saigon. Bà con trước ở chung khu phố với mình, đi kinh tế Phú Giáo sống không nổi, phần lớn quay lại Saigon, dù phải sống lang thang trên hè phố cũ của mình.
Bà Năm bức xúc, nói với chồng.
Ông Năm cầm củ mì chấm muối ớt, vừa ăn vừa nói:
– Saigon chỉ còn là hoài niệm. Saigon đâu mình về? Mà dẫu có bồng bế nhau về thì được gì? Được chăng, thiên hạ gọi “hộ cư trú lỳ” hoặc “người Việt gốc me”.
Bà Năm cằn nhằn.
– Còn hơn ở chịu chết?
– Bà con xóm rẫy chết, mình cùng chết. Má thằng Huy nhớ rằng, hơn hai năm nay, bà con cái xóm rẫy nghèo nầy đã đùm bọc, cưu mang gia đình mình. Lúc tối lửa, tắt đèn, mình bỏ đi sao đành!
– Nhưng tui sợ giặc giã, bị kẹt hồi Mậu Thân hoảng tới bây giờ.
– Nếu ai cũng nghĩ riêng tư, hơn thiệt, thì ai gìn giữ từng tấc đất của
tiền nhân để lại?
Huy vừa nhai củ mì, vừa trấn an mẹ.
– Ai cho phép quân xâm lược Pôn-Pốt đến xóm rẫy mà má sợ!
– Thằng thầy giáo chết bầm nầy, má nói không đi đâu cả, ở nhà phụ vợ làm rẫy. Người ta có ăn, có chịu, con không ăn nhảy vô chịu là sao?
Biết mẹ mình thương con nói hờn mát, chứ bụng bà chẳng đành. Huy dùng hai tay xoa vai mẹ.
-Má ơi, xin má thương con mà hiểu rằng, không ai ăn, ai chịu trong tình thế dầu sôi, lửa bỏng nầy. Giặc xâm lấn biên thùy, tàn sát đồng bào dã man, mình muốn yên ổn làm ăn, nhưng nó buộc mình phải cầm súng.
– Thầy giáo muốn ve vuốt tui phải không?
– Con nào dám, thưa mẹ!
Bà Năm như muốn chứng minh.
– Ngay như bác Sáu là gia đình liệt sĩ, lắm lúc bất mãn phê phán gay gắt những việc làm trái lòng dân của kẻ có chứ , có quyền quên thời suy loạn. Hãy để những kẻ ấy ra trận, con là cái gì mà lao vào chiến trường?
Huy giải thích với mẹ .
– Máu của hai người con bác Sáu, thấm chảy vào lòng đất quê nhà còn tươi rói, làm sao bác Sáu muối mặt mình được. Bác bức xúc nặng lời với ai đó, là muốn cho ai đó tốt hơn. Một phản biện cần thiết cho những ai có tấm lòng đối với đất nước. Đừng nghe bác nói vậy, vội cho rằng bác Sáu là người xấu. Như người hàng xóm nhậu nhẹt
về đánh đập vợ con, mình xót ruột nhảy vào can ngăn, xô đẩy thằng chồng. Tức thì, con vợ cầm dao chém mình, cứu chồng. Tại sao mầy đánh chồng tao?
Ông Năm tiếp lời Huy .
– Con nó nói phải đó bà, quốc gia hưng vong thất phu hữu trách.
Dân mình cũng thường bảo: giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!
Cái gì đàn bà cũng đánh vậy chú Năm?
Tiếng bác Sáu ồn ào ngoài hiên.
– Mời anh Sáu vào nhà ăn trưa với vợ chồng em.
Ông Năm đon đả mời.
Bác Sáu vào nhà, vỗ vai ông Năm.
– Giặc đến nhà, chổi chà cũng quét.
Cả nhà tức cười sặc sụa.
Bác Sáu bảo, thanh niên trai gái ra tuyến trước cùng bộ đội ngăn và đánh giặc. Tuyến sau, chăm lo trẻ, người già neo đơn, hết lòng giúp nhau sản xuất. Tuyến sau làm tốt thì tuyến trước vững vàng. Bác Sáu được bà con trong xã cử lo tổ chức tuyến sau.
– Vậy, lớp học tình thương có mở không bác Sáu?
Tường Vy hỏi.
– Vẫn mở và tiến hành gấp rút, để vừa dạy chữ, vừa quản lý trẻ em tránh thất lạc, tránh bom đạn trong thời loạn. Sáng mai, bác mời cháu lên xã và chúng ta bắt tay vào việc.
Chợt bà Năm quay sang Huy.
– Má sợ người ta không tin con.
– Má ơi, trong đầu người ta nghĩ gì về con, lúc nầy đối với con không quan trọng. Điều quan trọng là người ta và con có cùng một quê hương, chỉ một quê hương để nhớ để thương, để trân quý, giữ gìn. Trong giờ phút quê hương lâm nguy, con không thể không cùng người ta chung sức, chung lòng đánh quân xâm lược. Xin má vui và cho con giúp xã, giúp chú Hai Tân.
Gió trưa lùa nắng vào nhà, chở theo cái nóng oi bức. Mẹ Huy xoa đầu con mình như hồi Huy còn nhỏ. Bà nở nụ cười trong ánh mắt rưng rưng…
Hà Tiên khói lửa!
Ngày 14.3.1978 , một Sư Đoàn quân xâm lược Pôn-Pốt cấp tập tiến công Trung Đoàn 270 trấn giữ Hà Tiên. Trung Đoàn 270 đánh trả kiên cường, quần thảo với quân Pôn-Pốt từng góc phố, con đường, từng ngọn đồi, hốc đá. Từng mét chiến hào ngập máu. Quân xâm lược Pôn-Pốt bắt 300 dân gồm phụ nữ, trẻ em, người già, chúng hành quyết dã man: chặt đầu, mổ bụng, xé xác trẻ em, hãm hiếp tập thể, thọc cây vào cửa mình phụ nữ cho đến chết… tại Thạch Động .
Ngày 8.4.1978, Sư Đoàn 341 cùng dân quân Hà Tiên phản công, đập Sư Đoàn quân Pôn-Pốt xâm lược.
Đội Dân công hỏa tuyến do Bí thư Hai Thuận và giáo Huy trực tiếp vào trận tải thương, tiếp tế hậu cần đạn dược. Những thương binh, tử sĩ, nếu ta tải không kịp, bọn Pôn-Pốt sẽ phân thây.
Huy chịu trách nhiệm dẫn toán dân công theo cánh quân đánh vào Đá Dựng, một lũy thép mà quân Pôn-Pốt đang chiếm giữ. Huy đứng nép mình trong khe đá, tiếng ùng! ùng! rồi oàng!oàng! của pháo 105 xé toạc không khí ban mai. Tiếng pháo 175 nghe trầm chẳng khác nào tiếng sấm trời xa lan tỏa.
Dứt pháo , tiếng hô xung phong dậy đất trời đồi núi Hà Tiên. B40, B41 thi nhau nổ ùng, oàng. DKZ nổ chát chát chúa, 127 ly nổ tùng tùng… mùi thuốc súng quyến rũ theo đường chớp nổ sáng lòa.
Huy không còn phân biệt được tiếng nổ, Huy có cảm giác như mình đang ngồi dưới mái tôn của căn nhà xưa ở Saigon, mưa thưa thì nghe rõ từng hạt mưa rơi, mưa dồn dập thì chỉ nghe tiếng vang dội đinh tai, nhức óc.
Bộ đội đang truy kích địch.
Trước mắt Huy là bãi sa trường, xác ngổn ngang giữa ta và địch, mùi máu lẫn mùi da thịt, tiếng rên của thương binh lẫn tiếng súng rền vang khắp chiến trường Đá Dựng.
Trong khói lửa ấy, Huy và anh chị em Đội Dân công cố gắng chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau.
Huy đang cõng một anh thương binh còn rất trẻ, giập nát đôi chân, dưới lằn đạn thù bắn như rải trấu.
Đang chạy, bỗng Huy thấy mình khựng lại, mắt tối sầm, chân khụy xuống, anh thương binh vẫn còn nằm trên lưng và ôm chặt cổ Huy. Máu từ lồng ngực và miệng Huy trào ra, tai Huy như nghe tiếng trẻ đánh vần ê a chốn quê nhà!

Cao Thị Hoàng

Nguồn: https://xunauvn.org/

Advertisements