Áo Dài Thương Nhớ

Tranh sơn dầu “Nữ sinh” của họa sĩ Hưng Dũng

Tranh sơn dầu “Nữ sinh” của họa sĩ Hưng Dũng

 

Cách nay không lâu lắm, ngày 25, 26 tháng 3 năm 2016, tôi từ Mỹ về thăm quê nhà sau hai mươi bảy năm xa cách, cũng nhân có chuyện buồn: người em trai của tôi từ trần, đây là lý do có lẽ chính đáng nhất và gọn gàng nhất tôi trả lời cho quan chức hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhất trước khi tôi được thoải mái ra cổng để gọi taxi về thành phố Hồ Chí Minh kiếm một cái phòng trọ… Ở thành phố Hồ Chí Minh hai ngày, tôi mua vé máy bay giá rẻ về Đà Lạt để thăm lại nơi tôi từng sống ba mươi mốt năm, có mười bốn năm tôi dạy học. Tôi ở Đà Lạt thấy chẳng có gì vui, thành phố lạ hoắc, khác hẳn những năm tôi ở đó, đi học, đi làm, lập gia đình. Đà Lạt bây giờ “um tùm” không phải rừng trong phố xanh um mà um tùm vì sao đông dân thế, nhiều nhà mới thế? Du khách? Có, nhưng đây không phải chính mùa du lịch. Người ở xa đến trú ngụ? Sinh cơ lập nghiệp? Chắc vậy. Tôi không còn gặp nhiều người quen, chỉ có hai người. Tôi không còn nghe giọng Đà Lạt, giọng Huế, mà nghe gần như ai cũng nói giọng miền Bắc. Tôi mừng đất nước mình thống nhất, nhưng cũng buồn thấy mình lạc loài trong một thành phố “thân thương”! Cái từ thân thương nghe ngồ ngộ, ngày xưa nó là mến thương, là yêu thương, là tha thiết thương… Tôi bơ vơ thật tình và tôi đi xuống Lạc Lâm, thuộc huyện Đơn Dương nhìn lại ngôi trường con gái tôi từng dạy mấy tháng trước khi nó đi cùng với tôi đến đất khách quê người…

Buổi sáng hôm đó Chúa Nhật, tôi đứng trước ngôi Nhà Thờ của xứ đạo Lạc Lâm. Tôi không có đạo, tôi đứng đó để nhìn người ta đi dâng lễ, tôi thích nhìn người ta ăn mặc đẹp đẽ, đàn ông chỉnh tề trong Âu Phục, vài ba người già mặc quốc phục, đa số các bà các cô thì mặc áo dài. Tôi nhớ và thương nhất áo dài. Tôi nhớ Má tôi. Tôi nhớ vợ tôi. Tôi nhớ các con gái của tôi (tôi chỉ có hai đứa con gái). Tôi nhớ những người tôi thương yêu khi họ mặc áo dài. Tôi yêu đất nước tôi, ôi cái hình ảnh người đàn bà mặc áo dài sao mà giống cái bản đồ Tổ Quốc vậy!

Tôi đang đứng ngơ ngơ (chớ không ngơ ngác) thì có một người phụ nữ rất đẹp, mặc áo dài đến chào tôi, hỏi: “Thưa Bác, Bác có phải là Ba của cô Quình Lê không ạ?”. Tôi ngạc nhiên quá, nhưng thấy người hỏi tôi rất đàng hoàng, rất lễ phép, tôi không dè dặt đáp ngay: “Thưa cô, phải, tôi có đứa con gái ngày xưa dạy ở đây, trường Trung Học Phổ Thông Lạc Lâm.” “Con nhớ Bác mà, cách nay hơn hai mươi năm, con thấy Bác có xuống trường Lạc Lâm, con học năm cuối, cô giáo mà con thương là cô Quình Lê, Bác từ Đà Lạt đi Dran thăm con. Bác có già hơn nhưng dáng Bác vẫn hao hao ngày xưa. Và, cô Quình Lê con nhớ vì cái tên của cổ, chữ y viết thành i, cô ấy nhỏ người, thanh, gọn, đi dạy luôn luôn mặc áo dài trắng giống như chị-học-trò lớp lớn hơn con”. Tôi cười và cảm ơn người đàn bà đối diện. Đó là một nữ sinh cộng gần ba mươi năm tôi không ở trên Quê Hương, đứa bé nào…cũng già! Vài ba câu xã giao nữa thì cô ấy theo dòng người vào Nhà Thờ làm Lễ, tôi lững thững đi dạo trên bờ quốc lộ, tôi ngó mấy đóa hoa quỳ nở muộn. Tôi nghĩ thế vì hết tháng Ba thì thế nào trời cũng mưa, mà mưa thì hoa quỳ không còn, tới tháng Chín, tháng Mười mới có lại…

*

Tôi đi như thế, một mình, lúc đó khoảng hơn chin giờ sáng, tôi nghe có tiếng gọi sau lưng: “Bác ơi Bác, con muốn mời Bác về nhà con chơi một chút được không ạ?”. Tôi dừng bước và quay lại thì ra người đàn bà hồi nãy gặp ở trước Nhà Thờ. Tôi nói: “Hân hạnh lắm nhưng có gì trở ngại cho công ăn việc làm của cô không?”. “Không đâu Bác, Bác về nhà con, con giới thiệu Bác với Ba Má con, ông xã con và hai đứa nhóc của con. Con cũng muốn hỏi chuyện về cô giáo cũ của con nữa. Bác chiều con nha Bác!”.

Tôi theo người đàn bà ấy về nhà. Ô! Cái nhà ngói không lớn lắm mà rất… là cái nhà! Người đàn bà vào trước, kêu ơi ới: “Anh ơi, nhà mình có khách!”. Một người đàn ông trung niên hiện ra, hai tay nắm tay hai đứa nhỏ, một đứa chừng mười hai mười ba, đứa kia chắc mười, nở nụ cười rất đẹp chào tôi và nghe vợ giới thiệu về tôi. Bắt đầu là sự tình cờ mà duyên lắm anh à, đây là Ba của cô giáo Trần Quình Lê ngày xưa có dạy anh và em đó… Em gặp Bác ở Nhà Thờ, không hiểu sao em nhơ nhớ Bác như người quen, em đã từng biết hồi nhỏ. Không khí trong nhà như rộn lên khi hai người già hiện ra, người đàn bà giới thiệu tiếp, đây là ông bà Ngoại của hai đứa nhóc. Rồi nàng huyên thuyên nói cho cha mẹ biết về tôi… Ngộ ơi là ngộ, đúng là hữu duyên thiên lý, chúng tôi như người cùng một nhà…

Tôi được mời cà phê vườn nhà, mời trà Cầu Đất. Ông Cụ chỉ cho tôi thấy một giỏ trái khóm mới hái, hỏi tôi có thích không thì lấy bao nhiêu cũng được. Tôi lắc đầu: “Em xin anh chị tha cho, em đường xa, ở khách sạn, nhưng em sẽ xin một quả lát về cho cô quản lý khách sạn như một cách báo cáo mình… tạm vắng hôm nay”. Ông Cụ cười, bà Cụ thì nói: “Coi bộ nhà Bác ga lăng quá nhỉ!”.

Chúng tôi nói chuyện nhiều lắm, tôi hỏi chuyện quê nhà, cách sinh hoạt, còn họ thì hỏi tôi lối sống ở Mỹ, người đàn bà hồi sáng tíu tít hỏi thăm cô giáo của nàng. Tôi giới thiệu đầy đủ về tôi: Xưa dạy học ở Đà Lạt, từ tiểu học lên trung học, có dạy tư hai trường Đạo là Adran và Kỹ Thuật Lachalle, trường công cuối cùng mà tôi dạy là Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân. Vì có đi lính tôi phải học tập cải tạo hơi lâu, về thì tìm cách đi Mỹ. Tôi đi Mỹ đầu năm 1989, cuối năm đó thì tới Mỹ. Nhờ cuộc viễn hành bất đắc dĩ, tôi biết nước Thái Lan, nước Phi Luật Tân, biết quần đảo Hạ Uy Di. Hơn hai mươi sáu năm ở Mỹ, tôi biết cũng gần ba mươi Tiểu Bang. Tôi giới thiệu tiếp về gia đình, vợ tôi và con gái lớn đi làm nail, con gái út là Quình Lê vừa đi làm thư ký tư vừa đi học và đã đi làm chỗ yên ổn, có gia đình, có hai đứa con. Con gái lớn không chịu lấy chồng… Gia đình tôi không thể “phất” như thiên hạ vì chúng tôi ở khu không nhiều người Việt, không có sinh hoạt cộng đồng. Tôi lo cho hai đứa cháu Ngoại đi học… và cố quên dĩ vãng của mình, nhưng nhớ áo dài, nhớ học trò của tôi ở trường Nữ, nhớ hai đứa con tôi khi hết Tiểu Học, vào Trung Học luôn luôn mặc áo dài đi học… Tôi không giấu giếm tình cảm đặc biệt tôi dành cho Đà Lạt và Dran – Đà Lạt là nơi tôi ở ba mươi mốt năm, từ học trò đệ nhị cấp đến giáo sinh Sư Phạm, lập gia đình, đi dạy, đi lính, nổi chìm cùng vận nước trong thời chiến tranh… Dran là nơi cho tôi cái cảm giác đầu tiên hồi năm 1958 khi chuyến xe lửa đưa tôi từ Tháp Chàm lên Đà Lạt chun qua khỏi ba cái hầm khói than mịt mù, ra Eo Gió, Cà Beu, vào Dran, trời mát lạnh. Dran cũng là nơi tôi từng ăn ở vì tôi có người bạn rất dễ thương tên là Vương Quang Nghiệp đã mất rồi trong một trận đánh nào đó, tôi có quen thân với anh Hoàng Lanh, có tiệm may ngay tại Dran, sau đó ảnh về Sài Gòn may ở nhà may Adam đường Lê Thánh Tôn, sau 4-1975 không có tin tức gì nữa, trong khi đó nhiều năm tôi là người học trò dở quá nên cải tạo lâu… Ông Cụ bà Cụ thỉnh thoảng lau nước mắt khi biết tôi có nhiều năm không no, không ấm… và bây giờ cũng chẳng ấm êm gì vì tôi trót nặng lời thề “Qua Mỹ mà được thì tôi Làm Thơ không Làm Thuê”. Ông Cụ nói có đọc thơ tôi trên vài websites, bài nào hay thì đọc cho vợ nghe, bả khóc quá chừng… Tôi cười… trừ!

Mục chuyện chính là người đàn bà hồi sáng gặp đem mấy cuốn albums ra khoe với tôi hình ảnh ngày xưa, hình ảnh bây giờ, thời đi học, thời mới, thời làm con người mới. Mắt tôi dán chặt vào những hình ảnh áo dài. Người đàn bà mới quen mặc áo dài rất xinh, rất ngoan Đạo. Bà Má của nàng hồi trẻ cũng đẹp. Nhưng hình ảnh đập vào mắt tôi là hình Hoàng Hậu Nam Phương, người đàn bà Việt Nam mặc áo dài đẹp nhất và người đàn bà ấy cũng đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại. Tôi cũng được xem những người con gái Dran mặc áo dài, có một cô thật xinh, mặc áo dài vàng, chỉ thiếu cái loupe thôi, thì y hệt Hoàng Hậu Nam Phương. Nàng thấy tôi ngắm nghía hình người mặc áo dài vàng lâu quá, nàng nói: “Con có quen biết cô này, nhỏ tuổi hơn con nhưng học giỏi hơn con, luôn luôn lo việc xã hội nhờ có chồng giàu, chỉ có hai con nên ít bận bịu, cô này người ở đây nhưng cư ngụ chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh.”. Lạ thiệt, hình ảnh người con gái lo việc xã hội tự dưng làm bận lòng tôi, tôi nhớ tôi từng có một em học trò cũng xinh như thế, năm nay sáu mươi hơn rồi. Vậy thì… không phải… cố nhân!

Tôi và cả nhà trò chuyện với nhau… như người một nhà. Thấy đã trưa, tôi xin kiếu, tôi xin một quả khóm và tôi thú thật tôi có cảm tình mãi mãi với Dran, tôi muốn lưu lại một chút tình, một chút kỷ niệm vì cuối tháng, ngày 31 tôi về lại Mỹ, tôi chỉ ở Việt Nam tám ngày thôi. Tôi xin phép ông bà Cụ, hai vợ chồng trẻ cho tôi được đặt vào tay mỗi người tờ giấy bạc 2 dollars, đây là lucky money chớ không phải tiền-trao-cháo-múc. Cả nhà vui vẻ đồng ý. Tôi lấy ra sáu tờ hai đô tôi làm quà cho từng người. Tôi hỏi hai vợ chồng trẻ khi tôi về lại Mỹ có muốn tôi gửi gì về cho họ không, cô vợ nhí nhảnh: “Bác gửi cho con tấm thiệp!”. Tôi hứa sẽ nhớ, một năm nước Mỹ có bao nhiêu ngày Lễ, tôi gửi về bây nhiêu tờ thiệp nhưng tôi xin biết ngày sinh của mỗi người, tôi muốn nhớ và tôi muốn được nhận lại niềm vui nhân ngày vui của họ. Chúng tôi bịn rịn một chút. Tôi nặng tay với trái khóm nhưng nhẹ lòng biết mấy Quê Hương ơi! Tôi tin đất nước mình ngày một đẹp hơn, chan chứa tình người… Trưa, tiếng chuông Nhà Thờ đổ mừng chính Ngọ.

Hồi sáng sớm tôi xuống Đơn Dương bằng quốc lộ 11, đường sửa lung tung, bây giờ tôi về bằng quốc lộ 20 B qua Filnôm, lên Định An, lên Prenn, tới Đà Lạt, mai tôi xa… Gió cao nguyên chải mượt từng chòm thông xanh mướt. Tôi nhắm mắt thấy ai đó mặc áo dài vàng hai tà bay trong gió… Tôi tiếc mình không ở lâu để dạo xem cảnh Chùa, xem một vài đám cưới… Tôi thích nhìn áo dài! Tôi nhớ quá học trò tôi, những tà áo dài trắng muốt bốn mươi năm hơn gió mưa phiêu giạt về đâu?

Trần Vấn Lệ