Ðốt lò hương cũ…

Tạp Ghi Quỳnh Giao

 

Nguồn: Internet

Nguồn: Internet

 

Chúng ta nhớ Truyện Kiều ở khúc biệt ly ban đầu, trước khi nàng Kiều bán mình chuộc cha, có hai câu bất hủ:

Mai sau dù có bao giờ,
Ðốt lò hương ấy, so tơ phím này.

Hình như “mai sau dù có bao giờ” là câu đã được Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc dẫn vào một bài phiếm trong cuốn “Trước Ðèn” của ông. Còn câu “đốt lò hương ấy” thì được Ðinh Hùng mượn lại cho một di cảo, vì tác phẩm xuất bản năm 1971, bốn năm sau khi nhà thơ đã tạ thế vào ngày 24 tháng 8 năm 1967. Ðinh Hùng mượn lại chữ Kiều nhưng sửa thành “Ðốt Lò Hương Cũ”…

Cuốn sách chưa đầy hai trăm trang chỉ có 14 bài đã được nhà Lửa Thiêng xuất bản tháng 7 năm 1971 với lời giới thiệu như sau:

“Cuốn ‘Ðốt Lò Hương Cũ’ được xem là sáng tác cuối cùng của cố thi sĩ Ðinh Hùng. Ðiều mà Ðinh Hùng không hề nghĩ tới là quyển sách ông viết về những người đã chết lại không được xuất bản trước khi ông qua đời. Một số những kỷ niệm này tuy đã được ông đọc trên đài phát thanh hoặc đăng trên một vài tạp chí, nhưng sau đó đã được ông sửa chữa lại và dự định xuất bản. Nhưng sách chưa ra thì ông đã mất.”

Người viết đọc lại cuốn này qua ấn phẩm tái bản ở hải ngoại vào tháng Bảy, 1991. Vì nhớ lại tháng Tư, 1975 nên lại đọc lần nữa và hồi niệm về những người đã khuất.

Trong cuốn Kiều, hai câu thơ đó là tâm sự Thúy Kiều nhớ về Kim Trọng trước khi phải rũ áo. Nàng nhớ lời nguyện ước ba sinh và cung đàn xưa với chàng Kim nên mới nói cùng em gái rằng “đốt lò hương ấy” và “so tơ phím này.” Nhà thơ Ðinh Hùng sửa ra “đốt lò hương cũ” để tưởng niệm các văn thi sĩ quá cố ông quen biết từ hai chục năm trước, những người mà ông vinh danh là bất tử, “không bao giờ chết.”

Vào lúc ấy, Ðinh Hùng sống trong Nam và đem lại cho Sài Gòn phong cách văn hóa riêng với nhiều chương trình phát thanh và những sáng tác làm đẹp cho văn chương Việt Nam. Vậy mà ông vẫn tìm về kỷ niệm. Nhờ đó hậu thế mới thấy được tâm tư và tài hoa Ðinh Hùng cùng nét văn minh của người nghệ sĩ trong cõi tự do.

Trong di cảo của Ðinh Hùng, Quỳnh Giao nhớ nhất bài “Thạch Lam Thẩm Âm” vì bài viết mở ra một chân trời mới cho những kẻ đi sau mà cũng là một khung trời đã chết. Bài này kể lại một tiệc rượu chầu tại ngôi nhà của Thạch Lam ở Hà Nội. Hôm đó có đủ những “tai mắt,” chữ tai mắt này là của Ðinh Hùng, của Tự Lực Văn Ðoàn, gồm có Nhất Linh, Thế Lữ, Thạch Lam, Khái Hưng, Trần Tiêu và ba “tiểu quỷ” là Nguyễn Tường Bách, Huyền Kiêu và Ðinh Hùng.

Chiều hôm đó, giữa tiệc rượu trong nhà Thạch Lam, không rõ là ai đã cao hứng mà khởi xướng ra việc “Ði hát Ả đào”! Kết cuộc thì Thạch Lam ôm vò rượu theo anh em tìm nơi ca hát mà chẳng biết nơi nào mới thanh lịch, kể cả Thạch Lam, tác giả của “Hà Nội băm sáu phố phường.”

Cuối cùng thì họ xuống Ngã Tư Sở và bị lạc trong khu bàn cờ cho đến khi được một người chỉ ra sinh lộ. Người đó là Nguyễn Tuân và sinh lộ ông chỉ ra là trà thất của nàng Bạch Liên, có nghệ danh là “cô đào Sen.”

Vì khách hôm đó toàn những danh gia khét tiếng nên cô đào lập tức huy động các danh kỹ thuộc đàn chị. Ðinh Hùng kể ra những tên tuổi khiến chúng ta, hạng con cháu sau này, chợt thấy bồi hồi. Hai chị em Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm, Dì Trưởng Bẩy, Bích Thạch Hồn, Hồ Vạn Thái, hay Phúc Hậu một đào nương đã từng là người tình của Ðoàn Phú Tứ.

Khi chầu hát được bất ngờ mở ra, Ðinh Hùng kể lại rằng Nhất Linh, Khái Hưng và cả Thạch Lam đều cao hứng ngồi đánh trống chầu mà chẳng ai là khách quen của làng ca trù.

Ðám hậu sinh chúng ta đều biết từ khi đi học rằng Thạch Lam tạ thế rất sớm, ở tuổi 32 vào năm 1942. Nhất Linh thì du học bên Pháp từ năm 1927 và đến năm 1930 mới về nước. Khái Hưng thì bị thủ tiêu vào năm 1947, còn Nguyễn Tuân ở lại bên kia vĩ tuyến làm một thứ cây cảnh.

Qua bài viết của Ðinh Hùng về buổi tiệc chầu, hậu thế biết thêm nhiều chi tiết.

Nhất Linh được gọi là “tai” vì giỏi nghe nhạc dù là nhạc Tây phương, lại còn biết thổi kèn “clarinette,” Thế Lữ được gọi là “mắt” vì có thị giác rất tinh, Khái Hưng là “lưỡi” vì ăn nói đều nhanh, còn Thạch Lam là “mũi” vì đánh hơi rất sành những miếng ngon của Hà Nội.

Nhờ bài viết của Ðinh Hùng, mình có thể xác định trận trống chầu và tiêu phách ly kỳ đó ở vào thời mà ta gọi là “tiền chiến,” nghĩa là sau năm 1939 khi Nhất Linh hồi hương, nhưng trước năm Thạch Lam tạ thế là 1942.

Nhớ chuyện Tháng Tư, Quỳnh Giao nhắc tới Ðinh Hùng và tập di cảo của ông vì nhờ nhà thơ và nhà văn này mà hậu thế mới biết về phong cách rất đẹp của các văn nghệ sĩ thời xưa. Viết như ông mới thật là “viết cho hậu thế” để cảm tạ tiền nhân, kể cả khi ông viết về những nét phù du của nghệ sĩ và nghệ thuật.

Chi tiết làm chúng ta thấy mình chậm tiến là khi Ðinh Hùng kể lại rằng Khái Hưng dù đã say vẫn ngồi rất chững. Ông đường hoàng múa roi chầu điểm thêm hai tiếng Thôi Cổ là trống giục. Nhưng đến hồi gay cấn là khi đào hát cất tiếng, Khái Hưng giáng liền hai tiếng Song Châu vào tang trống khiến cái trống văng từ trên giường xuống sàn gác và lăn long lóc vào gầm bàn. Sau đó, Khái Hưng lăn theo, tay vẫn cầm roi chầu, tay kia níu lấy trống và rút cuộc thì chui dưới gầm bàn ngáy khò khò. Bạn hữu gọi dậy thì họ cứ ngồi lì dưới gầm bàn mà uống tiếp.

Thời ấy, chúng ta chưa có phim ảnh hay máy ghi âm nên đã mất hết. May là còn có Ðinh Hùng và lời tâm niệm đốt lò hương cũ. Nhà thơ viết cho các người bạn quá cố rồi cũng từ trần sau đó, nhưng nhờ sách báo xuất bản, mình được biết về ký ức một thời.

Xin thắp nén nhang cho nhà thơ tài hoa trong tiếng nhạc “Chiều Tím.” Ca khúc nổi tiếng này là do Ðan Thọ viết nhạc rồi Ðinh Hùng mới viết lời thật nhanh. Không là bài thơ mà vẫn cứ như thơ mới là chuyện thần tình.

Ðọc lại Ðinh Hùng thì mình ngậm ngùi thấy rằng đời sau vẫn thua xa.

Quỳnh Giao

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148266&zoneid=194